+ Trả Lời Ðề Tài
Hiện kết quả từ 1 tới 8 của 8

Chủ đề: Rước lễ và xưng tội - Hỏi đáp - Lý do cần xưng tội.

  1. #1

    LỚP XƯNG TỘI RƯỚC LỄ LẦN ĐẦU
    Tham gia ngày
    Sep 2010
    Đến từ
    Thanh xuân
    Bài gửi
    101
    Thanks
    3
    Được cảm ơn 82 lần trong 28 Bài chia sẻ ý nghĩa

    Thumbs down Rước lễ và xưng tội - Hỏi đáp - Lý do cần xưng tội.

    Có 1 vấn đề mà mình đã thắc mắc từ lâu. Mình đã hỏi nhiều người nhưng vẫn chưa nhận được 1 câu trả lời thỏa đáng. Đó là vấn đề phạm tội trọng thì không được rước lễ.
    Trong sách giáo lý công giáo mình học ngày xưa thì có nói là nếu phạm tội trọng thì phải ăn năn cách trọn (ăn năn hối hận vì mình đã làm Chúa buồn, vì Chúa đã yêu thương mình mà mình lại phản bội Chúa... Khác với ăn năn cách chẳng trọn là ăn năn vì sợ hình phạt) rồi mới rước lễ. Nhưng về sau mình lại nghe 1 số Linh Mục giảng là không được như vậy, dù có ăn năn cách trọn cũng là phạm sự thánh và đi xưng tội phải nói là "đã rước lễ khi còn mắc tội trọng, đã ăn năn cách trọn" và tốt hơn hết là không nên rước lễ khi còn mắc tội trọng.
    Và mình cũng có 1 thắc mắc không biết từ bao giờ đạo của mình bắt đầu có bí tích giải tội.(Theo mình nhớ là từ câu "dưới đất anh cầm buộc điều gì thì trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy" Nhưng từng đó không có nghĩa là phải đến 1 nơi nào đó để nói tội mình cho các tông đồ) vì theo minh nghĩ Chúa Giêsu đến thế gian là chết cho người tội lỗi, máu Thánh đổ ra là để cứu người tội lỗi, " người lành thì không cần chữa bệnh, người bệnh mới cần" và người bệnh nặng (người phạm tội trọng) sẽ cần chữa trị nhiều hơn. Khi Chúa đến trần gian đã chẳng màng đến những lời nói ra nói vào khi đến ăn uống với những người tội lỗi sao bây giờ đạo mình lại cấm người tội lỗi đến với Chúa. ở tòa giải tội mình xưng tội với Chúa. Chúa ở tòa giải tội có thể tha tội, còn Chúa ở bí tích Thánh Thể không biết làm điều đó sao???.
    hơn na trong 4 sách Tin Mừng mình chưa tìm thấy đoạn nào nói có chuyện các tông đồ xưng tội với Chúa Giêsu cả, thế mà lúc lễ tiệc ly, Chúa lập bí tích Thánh Thể thì ông nào cũng "rước lễ " cả. ???
    Xin anh chị em giúp đỡ mình tìm thấy 1 câu trả lời thuyết phục...
    thay đổi nội dung bởi: jhr, Sep 19th, 2011 lúc 06:15 Lý do: Viết hoa.. chính tả
    ----------------------------------------------------------------
    [Thông điệp cá nhân (Sign zz_yeuchua_zz's)]
    Yêu thương - Hiệp nhất - Phục vụ

  2. #2
    hoahairau's Avatar
    LỚP HUYNH TRƯỞNG
    Tham gia ngày
    Jun 2009
    Đến từ
    Hà Nội
    Bài gửi
    913
    Thanks
    89
    Được cảm ơn 763 lần trong 225 Bài chia sẻ ý nghĩa

    Mặc định

    ZZYC Thân mến!
    Đạo Công Giáo, khi một người đã mắc tội trọng thì không được rước lễ. Nếu vẫn rước lễ sẽ mắc tội thêm... Khi mắc tội trọng cần xét mình thật kỹ nguyên nhân mắc tội, là tội gì, sau đó phải thật lòng ăn năn,, Tới toà hoà giải, và phải đền tội mình phạm. Khi phép giải tội tại toà hoà giải xong, lúc đó hối nhân sạch mọi tội lỗi mới được rước Mình Thánh Chúa. Tự mình đến với Chúa mà không qua tòa cáo giải không đúng với Giáo luật GH CG. Vì vậy, việc xưng tội phải tới tòa hòa giải, và Linh mục được phép giải tội mới được ban ơn tha thứ...
    Vì vậy khi đã mắc tội trọng, chỉ ăn năn tội rồi chịu Lễ là không được, cần thiết tới tòa cáo giải để xưng tội mới được Rước Mình Thánh Chúa. Nếu không sẽ lỗi phạm tới Mình Thánh Chúa.
    GHCG không cho phép hối nhân tự xưng tội với Chúa, mà phải qua tòa cáo giải, có Linh Mục ban phép tha tội... Vì vậy tòa cáo giải là nơi linh thiêng để hối nhân xưng tội và nhận phép tha tội...
    ----------------------------------------------------------------
    [Thông điệp cá nhân (Sign hoahairau's)]

    Vì phàm ai đã có, thì được cho thêm và sẽ có dư thừa; còn ai không có, thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy đi. (Mt25,19)
    ---sign---Nam Lỗ Gx http://www.gxnamlo.org -or: http://namlo.conggiao.net
    + Google+: http://gplus.to/giaoxunamlo/about
    + facebook: pages/NamLo-Parish/97778438684

    + Tumblr: Tumblr.NL/ +twitter: twitterNL +digg: diggNL +pulse: pulseNL
    Joseph, jHr, hoahairau [hoahairau@gxnamlo.org]

  3. #3

    LỚP XƯNG TỘI RƯỚC LỄ LẦN ĐẦU
    Tham gia ngày
    Sep 2010
    Đến từ
    Thanh xuân
    Bài gửi
    101
    Thanks
    3
    Được cảm ơn 82 lần trong 28 Bài chia sẻ ý nghĩa

    Mặc định

    Cám ơn anh hhr! Đó là những thắc mắc có phần hơi ngớ ngẩn của ZZ nhưng rất chân tình hiihi...ZZ mong muốn lòng mình có những giải đáp cho những suy nghĩ hâm hâm đó.Giờ thì ZZ có chút chút roài. Chúc anh luôn vui vẻ
    ----------------------------------------------------------------
    [Thông điệp cá nhân (Sign zz_yeuchua_zz's)]
    Yêu thương - Hiệp nhất - Phục vụ

  4. #4
    hoahairau's Avatar
    LỚP HUYNH TRƯỞNG
    Tham gia ngày
    Jun 2009
    Đến từ
    Hà Nội
    Bài gửi
    913
    Thanks
    89
    Được cảm ơn 763 lần trong 225 Bài chia sẻ ý nghĩa

    Mặc định Hướng dẫn xét mình cho hối nhân xưng tội.

    Một tham khảo Khi xét mình xưng tội, của trẻ em, người lớn dùng thì quá hay!
    Chỗ đánh dấu màu đỏ, có thể bạn chưa để ý!

    HHr sẽ trích 02 phần giải thích cho bạn: Phần I và II.

    Nội dung chính:

    - Xét Mình (1) - Dọn mình: Bắt đầu có ý muốn xưng tội cần xét mình; Cầu xin ơn Chúa Thánh Thần sáng soi để việc xét mình tránh sa sự cám dỗ. Thời gian xét mình có thể ngắn hoặc dài tùy theo lâu không xưng tội, nhiều tội, trí nhớ.... (việc xét mình căn cứ trên những tội đã phạm, dựa theo; 10 Điều Răn, 6 Sự Răn, cải tội 7 mối, 8 mối Phúc thật, 14 mối thương người; Dựa trên các Giáo Luật, Giáo Huấn, Tông Thư, Giáo Lý.... vv. Ngoài ra còn xét đến nhận định tội bởi lương tâm mỗi người). Xem các hướng dẫn xét mình sau đây và các post tiếp sau để xét mình - hhr đã post cả vắn tắt Giáo Luật, Giáo Lý.... (các kinh thì không post đủ).
    - Ăn Năn Tội (2): Việc trước khi đến với tòa Cáo Giải chính là việc ĐÃ ĂN NĂN DỐC LÒNG CHỪA, ghe tởm tội lỗi chưa? Hứa sẽ không phạm đến những tội đã phạm này nữa... Đọc Kinh Ăn Năn Tội....
    - Xưng Tội (3): Đến với tòa cáo Giải: Vào tòa; Làm dấu +Quỳ; nói; Thưa Cha! Con xưng tội cách đây xxx ngày/tháng... Giờ con xét mình rồi, con đã Ăn Năn chừa hết mọi tội. Giờ con đến Cáo Mình cùng Cha, xin Cha làm phép giải tội cho con... xưng những tội đã phạm....
    (Nhớ là: Có nhớ thật thì đừng nên xưng là hồ nghi, có nhớ hồ nghi thì đừng nên xưng như thật; Nhớ thật thì xưng là đã phạm, nhớ hồ nghi thì xưng rõ là con nhớ hồ nghi hình như đã phạm... Có tội nào xưng tội đó, nhớ hồ nghi xưng hồ nghi, không phịa ra mà xưng thừa...)
    - Đền tội (4): Tạ ơn, Cảm Ơn... Chúa đã tha tội cho mình... Đền những tội đã phạm đến Chúa, với anh em, làm những việc đền tội... Căn cứ những việc đền tội khi Cha giải tội hướng dẫn.. (kinh mà Cha giải tội nhắc đền: Ví dụ đọc 50 kinh; Đó chính là 50 Kinh Mân Côi - Kinh Kính Mừng; 50 Kinh Là 5 Chục Kinh trong một Mùa Kinh Mân Côi nào đó bao gồm cả nguyện ngắm Mân Côi và các Chục Kinh... Nếu Cha nói rõ mùa nào thì Nguyện Ngắm Mùa đó... Còn nếu cha nói một tràng kinh thì là 200 Kinh, gồm 4 mùa; Mừng - Vui - Thương - Sự Sáng).

    Phần I - xem, quan sát một bản hướng dẫn xét mình xưng tội.

    CÁCH THỨC DỌN MÌNH CHỊU PHÉP GIẢI TỘI
    -
    Đọc kinh Đức Chúa Thánh Thần và kinh Lạy Cha để xin ơn trợ sủng.
    -
    Kinh trước khi xét mình:
    Lạy Chúa là sự sáng linh hồn con, xin soi sáng cho con đặng biết mọi tội lỗi con đã phạm trong thời gian qua, hoặc lo hoặc nói hoặc làm điều gì lỗi nghĩa cùng Chúa. Con lại xin Chúa vì công nghiệp Đức Chúa Giê-su, ban ơn cho con đặng ăn năn ghét tội cùng dốc lòng chừa thật. Amen.
    -
    Xét mình.

    BẢN XÉT MÌNH XƯNG TỘI DÀNH CHO TRẺ EM

    · ĐIỀU RĂN THỨ NHẤT.
    -
    Có bỏ đọc kinh sáng tối mấy lần?
    -
    Có phạm sự Thánh như: Xưng tội mà dấu tội trọng, rước lễ khi còn mắc tội trọng chăng?
    -
    Có hành vi hoặc thái độ bất kính với ảnh Thánh, như sử dụng bất xứng hoặc để ở những chỗ bất xứng tượng ảnh Chúa và Đức Mẹ, và các Thánh Chăng?
    -
    Có nói chuyện lớn tiếng hoặc đùa giỡn hoặc có hành vi bất kính trong Nhà thờ mấy lần?
    -
    Có bất mãn với Chúa hay kêu trách Chúa chăng?
    · ĐIỀU RĂN THỨ HAI.
    -
    Có kêu tên Chúa một cách bất kính chăng?
    -
    Có chửi trời, đất, nắng, mưa chăng?
    -
    Có thề dối chăng?
    -
    Có thề lặt vặt chăng?
    -
    Có thề làm điều ác điều xấu chăng?
    -
    Có khấn hứa với Chúa mà không giữ, mấy lần?
    · ĐIỀU RĂN THỨ BA.
    -
    Có bỏ lễ Chúa Nhật và lễ buộc mấy lần?
    -
    Có dự lễ Chúa Nhật không nên chăng?
    (Thí dụ: Đi trễ, về sớm, chia trí, ở ngoài Nhà thờ?)
    · ĐIỀU RĂN THỨ TƯ.
    -
    Có khinh dễ cha mẹ hoặc ông bà mấy lần?
    -
    Có giận ghét cha mẹ hoặc ông bà mấy lần?
    -
    Có cự cãi lại, không vâng lời cha mẹ hoặc ông bà mấy lần?
    -
    Có nói hỗn láo hoặc chửi lại ông bà cha mẹ mấy lần?
    · BỔN PHẬN CỦA ANH CHỊ EM VỚI NHAU.
    -
    Có mắng nhiếc chửi rủa anh chị em mấy lần?
    -
    Anh chị em có đánh lộn với nhau không?
    -
    Anh chị có làm gương xấu cho em út chăng?
    · ĐIỀU RĂN THỨ NĂM.
    -
    Có đánh đập hoặc gây thương tích cho ai chăng?
    -
    Có ước muốn làm điều dữ cho ai chăng?
    -
    Có ghen ghét phân bì khi thấy người khác được sự lành chăng?
    -
    Có oán thù ai chăng?
    -
    Có báo thù chăng? Cách nặng hay nhẹ?
    -
    Có chửi mắng người ta chăng?
    -
    Có rủa mình hay kẻ khác chăng?
    -
    Có làm gương xấu hay tạo dịp tội cho kẻ khác chăng?
    -
    Có sử dụng ma túy chăng? Mấy lần?
    -
    Có mua bán hoặc dắt mối mua ma túy chăng? Mấy lần?
    · ĐIỀU RĂN THỨ SÁU VÀ THỨ CHÍN.
    -
    Có hành vi dâm ô một mình mấy lần?
    -
    Có hành vi dâm ô với kẻ khác mấy lần?
    -
    Mắt có xem điều chẳng nên xem hoặc xem phim ảnh xấu hình ảnh xấu, mấy lần?
    -
    Có đọc sách dâm ô mấy lần?
    -
    Miệng có nói lời tục tĩu hoa tình hoặc chửi tục mấy lần?
    -
    Tai có nghe chuyện dâm ô mà lấy làm vui mấy lần?
    · ĐIỀU RĂN THỨ BẢY VÀ THỨ MƯỜI.
    -
    Có lấy của người cách bất công chăng?
    (Thí dụ: Trộm cắp, cướp giựt…) Món gì? Trị giá bao nhiêu? Lấy của người giầu hay nghèo?
    -
    Có cầm giữ của người khác như là không trả nợ, mượn không trả, giữ giùm rồi không trả, lượm được cũng không trả khi có thể nhặt được chăng?
    -
    Có đồng lõa trong việc lấy của người hay làm thiệt hại cho người khác chăng? Bao nhiêu?
    -
    Có gian lận trong việc cân, đo, đong, đếm chăng? Bao nhiêu?
    -
    Có cờ bạc sát phạt nhau mấy lần?
    -
    Có tham lam muốn đoạt lấy của người khác chăng?
    · ĐIỀU RĂN THỨ TÁM.
    -
    Có nói dối phỉnh gạt gây nên thiệt hại vật chất hay thiệt hại về mặt tinh thần cho ai chăng?
    -
    Có dối gạt Đấng bề trên phần hồn (Giám mục của mình, Cha Sở hoặc Cha coi sóc họ đạo của mình) trong việc hệ trọng chăng?
    -
    Có dối gạt ông bà cha mẹ trong việc quan trọng chăng?
    -
    Có tố gian, cáo gian ai chăng?
    -
    Có vu khống ai không? (gán cho người ta cái tội mà người ta không có).
    -
    Có nói hành, nói xấu kẻ khác chăng?
    -
    Có tiết lộ điều bí ẩn của kẻ khác khi không cần thiết chăng?
    -
    Có nhục mạ phỉ bang kẻ khác chăng?
    -
    Có hồ nghi sự xấu cho người khác khi chưa đủ lẽ chăng?
    · SÁU ĐIỀU RĂN HỘI THÁNH.
    -
    Có bỏ xưng tội hằng năm chăng? Mấy năm?
    -
    Có bỏ rước lễ Mùa Phục Sinh chăng? Mấy năm?
    · CÁC MỐI TỘI ĐẦU.
    -
    Có tự phụ kiêu căng trong lòng hay cả bề ngoài chăng?
    -
    Có khinh bỉ chê bai kẻ khác chăng?
    -
    Có chễ giễu nhạo cười những người già nua lẩm cẩm hoặc có khuyết tật chăng?
    -
    Có quá hà tiện không bố thí giúp đỡ những kẻ khốn khổ cho vừa sức mình chăng?
    -
    Có ham mê ăn uống quá độ chăng?
    -
    Có buông mình theo tính nóng giận quá lẽ chăng?

    *****


    *******


    *****


    SAU KHI XÉT MÌNH
    -
    Đọc kinh Cáo mình và kinh Ăn năn tội để giục lòng thống hối ăn năn xin lỗi Chúa.
    -
    Vào tòa giải tội để xưng tội.
    -
    Làm dấu Thánh giá.
    -
    Trước hết thưa rằng:
    Thưa Cha con xưng tội được mấy (ngày, tuần, tháng, năm)
    -
    Xưng tội ra: (tội gì? Mấy lần?)
    -
    Xưng tội xong thì thưa:
    “Thưa Cha con hết tội rồi”.
    -
    Nghe Cha Giải tội khuyên lơn và dạy việc đền tội.
    -
    Khi Cha đọc công thức giải tội thì ăn năn tội trong lòng.
    -
    Khi Cha giơ tay Ban phép Giải tội thì mình làm dấu Thánh giá rồi thưa:
    Amen - Con cám ơn Cha.
    -
    Bước ra về chỗ và làm việc đền tội.

    Các Kinh đọc khi Chịu Phép Giải Tội


    KINH ĐỨC CHÚA THÁNH THẦN

    Chúng con lạy ơn Đức Chúa Thánh Thần thiêng liêng sáng láng vô cùng. Chúng con xin Đức Chúa Thánh Thần xuống đầy lòng chúng con là kẻ tin cậy Đức Chúa Trời, và đốt lửa kính mến Đức Chúa Trời trong lòng chúng con: chúng con xin Đức Chúa Trời cho Đức Chúa Thánh Thần xuống.
    Thưa:
    Sửa lại mọi sự trong ngoài chúng con.
    Chúng con cầu cùng Đức Chúa Trời xưa đã cho Đức Chúa Thánh Thần xuống soi lòng dạy dỗ các Thánh Tông đồ, thì rày chúng con cũng xin Đức Chúa Trời lại cho Đức Chúa Thánh Thần lại xuống an ủi dạy dỗ chúng con làm những việc lành, vì công nghiệp vô cùng Đức Chúa Giê-su Ki-tô là Chúa chúng con. Amen.

    KINH LẠY CHA

    Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.
    Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hàng ngày. Và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con. Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ; nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ. Amen.

    KINH CÁO MÌNH

    Tôi thú nhận cùng Thiên Chúa toàn năng (và cùng anh chị em) tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót. Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng.
    Vì vậy tôi xin Đức Bà Maria trọn đời đồng trinh, các Thiên Thần, các Thánh (và anh chị em) khẩn cầu cho tôi trước tòa Thiên Chúa, Chúa chúng ta. Amen.

    KINH ĂN NĂN TỘI

    Lạy Chúa con, Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành vô cùng. Chúa đã dựng nên con và co Con Chúa ra đời chịu nạn chịu chết vì con; mà con cả lòng phản nghịch lỗi nghĩa cùng Chúa, thì con lo buồn đau đớn cùng chê ghét mọi tội con trên hết mọi sự; con dốc lòng chừa cải và nhờ ơn Chúa thì con sẽ lánh xa dịp tội cùng làm việc đền tội cho xứng. Amen.

    Tham khảo bản xét mình cho người lớn: http://www.gxnamlo.org/jl/index.php?...ngcs&Itemid=57

    __________________________________________________ __________

    Trích bản giúp xét mình cho trẻ em của Liên Giáo xứ Nam Lỗ - Duyên Tục


    __________________________________________________ _________________________________________
    Phần II - Giáo luật và tông thư:
    (Tham khảo Thiên 04)
    Thừa tác viên.
    Ðiều 959: Trong Bí Tích Thống Hối, những tín hữu nào thú tội với một thừa tác viên hợp pháp, hối hận về những tội ấy và dốc lòng sửa mình, thì được Thiên Chúa tha thứ những tội đã phạm sau khi chịu Bí Tích Rửa Tội, qua sự xá giải do tác viên ấy ban, và đồng thời họ được giao hòa với Giáo Hội mà họ đã làm tổn thương khi phạm tội.

    Ðiều 964: (1) Nơi dành riêng để xưng tội là nhà thờ hay nhà nguyện.
    (2) Hội Ðồng Giám Mục phải ra những quy luật liên hệ đến tòa giải tội, liệu sao để có tòa giải tội đặt nơi công khai và với một vách ngăn giữa hối nhân và cha giải tội, ngõ hầu các tín hữu có thể tự do đến tòa giải tội khi họ muốn.
    (3) Không được nhận xưng tội ở ngoài tòa giải tội, trừ khi có lý do chính đáng.
    Ðiều 966: (1) Ðể việc xá giải được hữu hiệu, luật đòi hỏi thừa tác viên, ngoài quyền thánh chức, còn phải hưởng năng quyền thi hành quyền thánh chức ấy đối với các tín hữu mà ngài ban ơn xá giải.
    (2) Linh mục có thể lãnh nhận năng quyền này hoặc do chính luật, hoặc do nhà chức trách có thẩm quyền cấp ban theo quy tắc của điều 969.
    Chương III: Hối Nhân
    Ðiều 987: Ðể lãnh nhận linh dược cứu rỗi của Bí Tích Thống Hối, tín hữu phải thành tâm từ bỏ những tội đã phạm và quyết chí sửa mình, trở về với Thiên Chúa.
    Ðiều 988: (1) Tín hữu buộc xưng thú, sau khi xét mình kỹ lưỡng, hết mọi tội nặng, theo từng loại và số, mà mình ý thức đã sa phạm sau khi chịu phép Rửa Tội mà chưa được trực tiếp tha thứ bởi quyền tháo gỡ của Giáo Hội hoặc chưa thú nhận trong việc xưng tội riêng.
    (2) Tín hữu được khuyến khích nên xưng hết cả những tội nhẹ nữa.
    Ðiều 989: Mọi tín hữu, sau khi đã đến tuổi khôn, buộc phải xưng kỹ càng các tội trọng ít là mỗi năm một lần.
    Ðiều 990: Không cấm xưng tội bằng thông ngôn, miễn là phải tránh mọi lạm dụng, gương xấu, và giữ quy định của điều 983, triệt 2.
    Ðiều 991: Mọi tín hữu được toàn quyền xưng tội với một cha giải tội được chuẩn nhận hợp lệ mà họ ưng ý, tuy dù vị ấy thuộc lễ điển khác.

    (Trích Giáo Luật GHCG 1983)


    Phụ kèm: các hướng dẫn:


    Tại sao phải đi Xưng Tội?
    Hòa Giải và Vẻ Đẹp của Thiên Chúa
    Chúng ta hãy cùng nhau cố gắng tìm hiểu Xưng Tội là gì: Nếu chúng ta thật sự hiểu rỏ việc xưng tội, với tất cả lý trí và tâm hồn, thì chúng ta sẽ cảm thấy sự cần thiết và niềm vui trong kinh nghiệm xưng tội. Trong việc xưng tội, Chúa ban cho chúng ta sự tha thứ qua mục vụ của Giáo Hội, tái tạo một quả tim mới mẻ trong chúng ta, ban cho một Tinh Thần mới trong chúng ta hầu giúp chúng ta có thể có một đòi sống hòa giải với Chúa, với chính mình và với người khác, như vậy thì chúng ta mới có khả năng tha thứ và yêu thương, vượt qua mọi cám dỗ của lòng ngờ vực và chán chường.

    1.-Tại sao phải đi Xưng Tội?
    Giữa nhiều câu hỏi thường xẩy ra trong tâm trí tôi, như là một Gíam mục tôi chọn một câu hỏi mà tôi thường tự hỏi: Tại sao người tín hữu phải đi xưng tội? Một câu hỏi thường được xuất hiện nhiều lần trong tâm trí tôi. Tại sao phải đi dến một linh mục để kể cho ngài nghe tội lỗi của mình và tại sao lại không xưng tội trực tiếp với Thiên Chúa, Đấng biết rỏ và am hiểu chúng ta hơn tất cả mọi linh mục giải tội?

    Và, trong một cách hợp lý hơn, tại sao chúng ta lại nói tất cả mọi điều xấu xa của chúng ta, đặc biệt là những điều mà chính mình cũng hổ thẹn với mình, mà lại xưng với một người mà họ cũng là người tội lỗi như chúng ta, mà còn có thể là ngừời có những kinh nghiệm hoàn toàn khác biệt với chúng ta, và có thể không am tường một chút gì về chúng ta cả? Làm sao mà người giải tội kinh nghiệm tội lỗi đó đối như tôi là như thế nào? Có vài người còn nói thêm: Tội có thực sự hiện hữu không hay là chỉ là sự bịa đặt của các linh mục để chúng ta phải ăn ở ngay lành hơn?

    Tôi nghĩ là tôi có thể trả lời ngay câu hỏi cuối cùng mà không một chút sợ hãi hoặc sợ bị bác bỏ: Tội lỗi hiện hữu, không chỉ là những điều sai lầm mà còn là sự xấu. Chúng ta chỉ cần nhìn đến những trạng huống hằng ngày trên thế giới, những bạo lực, những cuộc chiến tranh, những bất công, những lạm dụng, những ích kỷ, những ghen ghét và những thù hận đang xẩy ra. Những điều đó đầy dẩy trong báo chí, trên đài phát thanh, đài truyền hình và trên Mạng luới.

    Người nào tin vào tình yêu của Thiên Chúa, hơn nữa, cảm nhận rằng tội lỗi là một thứ tình yêu vị kỷ (“amor curvus,” tình yêu khép kín), đó chính là sự bội bạc của người tỏ ra thờ ơ, dửng dưng xua đuổi, không đáp lại tình yêu. Sự từ chối này không những taọ ra điều tai hại cho người sống ích kỷ, nhưng còn tai hại đến cho toàn thể xã hội, tạo nên những điều kiện và những hệ thống chằng chịt những vị kỷ và bạo lực để trở thành những thực tại có thật, đó là “những cơ cấu của tội lỗi”( hãy nhìn đến những bất công trong xã hội, những khoảng cách giữa giàu và nghèo trong các nước nghèo chậm tiến, và những ô nhục về đói kém trên thế giới -)

    Do những điều nêu trên, không một ai có thể do dự từ chối nhấn mạnh đến sự tai hại lớn lao và thảm họa của tội lỗi. Tội lỗi làm mất đi lý trí để nhận thức thế nào là tội - rất khác biệt với căn bệnh của linh hồn mà chúng ta thường gọi là “cảm giác tội lỗi”, tội lỗi làm suy yếu con tim trước quang cảnh của sự xấu và sự mệ hoặc của Satan, một kẻ thù luôn muốn tách rời chúng ta ra khỏi Thiên Chúa.

    2. Kinh nghiệm của sự Tha Thứ
    Mặc dù tất cả những điều kể trên, tôi cũng không thể nói là thế giới chúng ta là xấu xa và làm sự lành là vô ích. Trái lại, tôi quả quyết là sự tốt vẫn hiện hữu và còn lớn lao hơn sự xấu, đời sống thật là tốt đẹp và đem lại một cuộc sống ngay chính cho tình yêu và với tình yêu thì rất là đáng ca tụng.

    Lý do sâu xa hướng dẫn tôi suy nghĩ như thế vì với kinh nghiệm về lòng thương xót của Thiên Chúa mà tôi cảm nhận, cùng một lúc tôi nhìn thấy tỏa ra nơi những người khiêm tốn và đơn sơ: Đó là kinh nghiệm mà tôi đã gặp được nhiều lần, khi tha tôi cho người xưng tội như là một linh mục của Giáo Hội, cũng như khi tôi nhận được sự tha tội từ một linh mục khác. Tôi đã đi xưng tội đều đặn trong nhiều năm, nhiều lần trong một tháng, và tôi cảm thấy được niềm an vui sau khi đi xưng tôi.

    Niềm vui tỏa ra trong tôi vì tôi cảm thấy được Chúa yêu thương, mỗi lần sự tha thứ của Chúa được ban phát qua vị linh mục khi ngài ban cho tôi nhân danh Chúa. Đó cũng là niềm vui mà tôi đã nhận thấy trên nét mặt của những người đi Xưng Tội: không chỉ là cảm thấy nhẹ nhỏm của người đã “trút được gánh nặng” (Xưng tội không phải là sự giải tỏa tâm lý hay là một buổi hướng dẫn tâm lý), nhưng xưng tội đem lại sự an bình trong tâm hồn, cảm xúc thấu đến trong tim bởi một tình yêu cao cả làm cho lành mạnh, một tình yêu đến từ trời cao và biến đổi chúng ta.

    Cầu xin sự tha thứ với lòng xác tín, đón nhận sự tha thứ với lòng biết ơn và tha thứ cho kẻ khác một cách rộng lượng là nguồn bình an vô tận: bởi vì đi Xưng Tội là làm đúng với lẽ phải và là điều rất tốt đẹp. Tôi muốn san sẻ những lý do đã đem lại niềm vui cho tôi với những ai khi đọc thư mục vụ này.
    ..... continue.......
    thay đổi nội dung bởi: jhr, Sep 19th, 2011 lúc 06:47
    ----------------------------------------------------------------
    [Thông điệp cá nhân (Sign hoahairau's)]

    Vì phàm ai đã có, thì được cho thêm và sẽ có dư thừa; còn ai không có, thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy đi. (Mt25,19)
    ---sign---Nam Lỗ Gx http://www.gxnamlo.org -or: http://namlo.conggiao.net
    + Google+: http://gplus.to/giaoxunamlo/about
    + facebook: pages/NamLo-Parish/97778438684

    + Tumblr: Tumblr.NL/ +twitter: twitterNL +digg: diggNL +pulse: pulseNL
    Joseph, jHr, hoahairau [hoahairau@gxnamlo.org]

  5. #5
    hoahairau's Avatar
    LỚP HUYNH TRƯỞNG
    Tham gia ngày
    Jun 2009
    Đến từ
    Hà Nội
    Bài gửi
    913
    Thanks
    89
    Được cảm ơn 763 lần trong 225 Bài chia sẻ ý nghĩa

    Mặc định

    Bài 43
    Tội Lỗi

    --------------------------------------------------------------------------------

    (x. SGLC từ 1846 đến 1876).

    "Nếu chúng ta nói là mình không có tội thì chúng ta tự lừa dối chính mình và sự thật không có trong ta. Nếu chúng ta thú nhận tội lỗi mình thì Thiên Chúa là Đấng trung thành và công chính sẽ tha tội cho ta và thanh tẩy ta sạch mọi điều bất chính" (1Ga 1,8-9).

    I. Tội lỗi và lòng Thiên Chúa thương xót.

    Thánh Âu tinh định nghĩa tội là "Một lời nói, một hành vi, một ước muốn trái với lề luật vĩnh cửu". Tuy nhiên phải nhìn thấy đàng sau lề luật ấy là giao ước yêu thương giữa con người và Thiên Chúa. Cũng như một người chồng khi phạm tội ngoại tình, anh ta không chỉ vi phạm Luật Hôn Nhân gia đình, nhưng chủ yếu là anh đã xúc phạm đến vợ mình, và giao ước yêu thương hai người đã ký kết. Chính vì thế, tội là sự xúc phạm đến chính Thiên Chúa, là chống lại tình yêu Thiên Chúa dành cho ta, là yêu mình đến độ khinh thị Thiên Chúa. Nhưng cho dẫu con người tội lỗi, Thiên Chúa vẫn thương xót con người. Lòng thương xót ấy được bầy tỏ cụ thể nơi Đức Giêsu, nhất là trong cuộc khổ nạn của Người. Suốt cuộc sống công khai, Đức Giêsu không ngừng rao giảng lòng thương xót của Thiên Chúa và ban ơn tha thứ cho tội nhân. Tuy nhiên chính trong cuộc khổ nạn mà tấm lòng của Thiên Chúa được bày tỏ cách trọn vẹn. Ở đó, tội lỗi bộc lộ tính hung bạo và đa dạng của nó: sự cứng lòng và thái độ thù hận của các thủ lãnh và dân chúng, sự hèn nhát của Philatô và độc ác của quân lính, sự phản bội của Giuđa và sự chối bỏ của Phêrô, cũng như thái độ bỏ rơi của các môn đệ. Nhưng cũng chính vào giờ tối tăm ấy, Chúa Kitô đã tự hiến và âm thầm trở nên nguồn mạch vô tận thông ban ơn tha tội cho chúng ta.

    II. Hình thái và mức độ của tội.

    Tội lỗi rất đa dạng. Trong thư Rôma, Thánh Phaolô đã liệt kê các thứ tội "Dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tương, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tị, say sưa, chè chén và những điều khác như vậy" (1,28-32). Thông thường người ta phân biệt tội theo đối tượng, nghĩa là dựa vào các điều răn mà tội nhân vi phạm. Cũng có thể phân biệt tội dựa vào tương quan của ta với Thiên Chúa, với tha nhân hoặc với chính bản thân. Tuy nhiên, nguồn gốc sâu xa của mọi tội lỗi là chính lòng người "Vì tự lòng xuất phát những ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cắp, làm chứng gian và vu khống. Đó chính là những cái làm cho con người ra ô uế" (Mt 15,19-20). Tội lỗi có nhiều mức độ. Truyền thống Hội Thánh nhìn nhận cách phân biệt tội trọng và tội nhẹ như đã có trong Kinh Thánh.

    1. Tội trọng:

    Một tội được coi là trọng khi hội đủ ba yếu tố: Phạm một lỗi nặng, có ý thức đầy đủ và cố tình. Lỗi nặng được xác định trong mười điều răn và Đức Giêsu lập lại: Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hãy thảo kính cha mẹ (x.Mc 10,14). Giữa các tội nầy, có tội nặng hơn và tội nhẹ hơn. Mức độ tội lỗi cũng tùy thuộc vào tương quan của tội nhân với phẩm giá của người bị xúc phạm, nếu hành hung cha mẹ thì nặng tội hơn hành hung người lạ. Có ý thức đầy đủ là biết hành vi đó là tội, trái với luật Thiên Chúa. Nếu thiếu hiểu biết ngoài ý muốn, tội nhân có thể được giảm hoặc miễn trách nhiệm. Nhưng không ai được coi là không biết đến những nguyên tắc của luân lý đã được ghi khắc trong lương tâm của mỗi người. Cố tình là đã biết, suy nghĩ cặn kẽ và ưng thuận. Nó trở thành một lựa chọn cá nhân, và tội nhân phải chịu trách nhiệm về lựa chọn của mình. Khi phạm tội trọng, con người đánh mất đức mến, tự tước bỏ ơn thánh hóa, tức là tình trạng ân sủng và phần rỗi đời đời bị đe dọa. Tuy nhiên quyền phán xét một con người là quyền thuộc về Thiên Chúa, Đấng công minh và cũng là Đấng giàu lòng xót thương.

    2. Tội nhẹ:

    Chúng ta phạm tội nhẹ khi vi phạm luật luân lý trong điều nhẹ, hay lỗi điều nặng nhưng không hoàn toàn hiểu biết hoặc ưng thuận. Tội nhẹ không làm mất ơn thánh hóa, cũng không làm mất phúc thật vĩnh cửu. Tuy nhiên, tội nhẹ làm suy yếu Đức Ái, ngăn cản ta tiến triển trong cuộc thực hành các đức tính và điều thiện. Đồng thời người cố tình phạm tội nhẹ và không sám hối, sẽ đi dần đến chỗ phạm tội trọng và ảnh hưởng đến phần rỗi đời đời. Ngoài ra, Kinh Thánh còn nói tới tội phạm đến Thánh Thần (x.Mc 3,29). Đó là tội cố tình không hối cải và khước từ lòng thương xót của Thiên Chúa, vì thế cũng khước từ sự tha tội và ơn cứu độ do Chúa Thánh Thần ban cho. Không phải là Thiên Chúa không tha thứ, nhưng chính tội nhân tự tách mình ra khỏi lòng thương xót của Ngài, và tự kết án chính mình.

    III. Những hình thức khác của tội.

    1. Thói xấu:

    Thói xấu xuất hiện khi những hành vi xấu được lập đi lập lại nhiều lần. Hậu quả là con người nghiêng chiều về điều ác, lương tâm mờ tối và lệch lạc trong việc thẩm định giá trị luân lý. Có thể xếp loại các thói xấu dựa vào các nhân đức mà chúng đối nghịch, hoặc dựa vào bảy mối tội đầu: kiêu ngạo, hà tiện, mê dâm dục, ghen ghét, hờn giận, mê ăn uống và làm biếng.

    2. Đồng lõa với tội lỗi:

    Tội là một hành vi cá nhân, nhưng ta phải chịu trách nhiệm về tội của người khác, khi cộng tác với họ dưới nhiều hình thức: tham gia trực tiếp và cố tình; ra lệnh, xúi giục hoặc tán thành; không ngăn cản khi có bổn phận phải làm; bao che cho người làm điều ác.

    Tội lỗi là kinh nghiệm thực tế của mỗi người và mọi người "Nếu chúng ta nói mình không có tội thì ta tự lừa dối mình" (1Ga 1,8). Nhưng đồng thời, Kinh Thánh xác quyết "Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội" (Rm 5,20). Nói như thế không phải để ta buông thả trong tội lỗi, nhưng để ta tin tưởng vào tình thương tha thứ của Thiên Chúa, và tình thương ấy thúc đẩy ta vươn lên không ngừng, sống phù hợp với ơn gọi làm con cái Chúa.
    (Trích Giáo Lý GHCG)

    BÍ TICH HÒA GIẢI
    --------------------------------------------------------------------------------
    (x. SGLC từ 1420 đến 1484)

    "Những ai đến lãnh nhận bí tích Hòa giải, đều được Thiên Chúa nhân từ tha thứ những xúc phạm đến Người. Đồng thời họ được giao hòa cùng Hội Thánh mà tội lỗi họ đã làm tổn thương. Hội Thánh hằng nỗ lực lấy Đức Ái, gương lành và kinh nguyện, để hoán cải họ" (GH 11) Bí tích Hòa giải còn được gọi là Bí tích Giải tội, bí tích Cáo giải, bí tích Sám Hối. Nhưng dù tên gọi nào chăng nữa, vẫn luôn hàm chứa hai nội dung chính yếu: sự hoán cải của hối nhân và tình thương tha thứ của Thiên Chúa. Tìm hiểu bí tích Hòa giải là cơ hội giúp ta khám phá tình thương của Thiên Chúa, và cảm nghiệm đó thúc đẩy ta sám hối, mỗi ngày và mọi ngày trong suốt cuộc đời.

    I. Tiếng gọi hoán cải.

    "Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến. Anh em hãy ăn năn thống hối và tin vào Tin Mừng" (Mc 1,15). Tiếng gọi hoán cải là thành phần thiết yếu trong lời công bố Nước Trời. Tiếng gọi ấy trước hết được gửi đến những ai chưa nhận biết Chúa Kitô và Tin Mừng của Ngài. Vì thế, Thánh Tẩy là bí tích tha tội và dẫn đưa ta vào đời sống mới.

    Tuy nhiên, tiếng gọi ấy vẫn tiếp tục được gửi đến cho những người đã chịu Thánh Tẩy, vì kinh nghiệm cuộc sống cho thấy ta vẫn tiếp tục phạm tội sau khi đã chịu Thánh Tẩy. "Nếu ta nói rằng mình không có tội, ta tự lừa dối mình, và sự thật không có trong ta" (1Ga 1,8). Chính Đức Giêsu cũng dạy ta cầu nguyện: "Xin Cha tha tội chúng con" (x. Lc 11,4). Bởi vì tuy bí tích Thánh Tẩy dẫn ta vào đời sống mới, nhưng không hủy diệt sự yếu đuối và hướng chiều về tội nơi con người tự nhiên. Chính vì thế, hoán cải là cả một hành trình dài và cuộc sống người tín hữu là cuộc chiến đấu liên lỉ chống lại tội lỗi. "Hội Thánh ôm ấp những kẻ có tội trong lòng mình, nên vừa thánh thiện vừa phải luôn thanh tẩy mình. Do đó, Hội Thánh luôn thực hiện việc sám hối và canh tân" (GH 8).

    Sự hoán cải mà Đức Giêsu mời gọi là sự hoán cải nội tâm, hoán cải của con tim. Chỉ khi nào có sự hoán cải sâu xa đó, những việc làm bên ngoài mới có ý nghĩa: những cử chỉ, lời kinh, việc làm đền tội. Sự hoán cải ấy là sự thay đổi sâu xa hướng đi của cả cuộc đời: một đàng là buồn phiền, hối hận vì tội, và dứt khoát với cái xấu; đàng khác là quyết tâm thay đổi đời sống, trông cậy và tín thác vào Chúa. Hoán cải như thế không phải là việc dễ dàng. Vì thế, hoán cải trước hết là công việc của ân sủng Thiên Chúa. Chính Chúa nâng đỡ, để ta có thể làm lại cuộc đời. Càng khám phá tình thương của Chúa, ta càng khinh ghét tội lỗi và không muốn bị xa cách Chúa. Thánh Thần vừa là Đấng soi sáng giúp ta nhận ra con người thật và tội lỗi của mình, vừa là Đấng An ủi giúp ta ăn năn sám hối.

    II. Bí tích Hòa giải.

    Tội là bẻ gãy mối hiệp thông không những với Chúa mà với cả Hội Thánh. Vì thế, ta cần được Thiên Chúa tha thứ và cần giao hòa với Hội Thánh. Ý nghĩa đó được thể hiện đầy đủ trong Bí tích Hòa giải. "Không ai có quyền tha tội ngoại trừ một mình Thiên Chúa" (Mc 2,7). Đúng như thế. Nhưng Chúa Kitô chính là Thiên Chúa nên Ngài có quyền tha tội: "Tội lỗi của con đã được tha" (Mc 2,5).

    Sau đó, Ngài ban cho Hội Thánh quyền tha tội nhân danh Ngài (x. Ga 20,21-23). Đồng thời trong cuộc sống trần thế, khi Đức Giêsu tha tội cho ai, Ngài cũng đưa họ hội nhập cộng đoàn dân Chúa. Vì thế, khi trao cho các quyền tha tội, Ngài cũng trao cho các ông quyền giao hòa tội nhân với Hội Thánh: "Các con cầm buộc ai, trên trời cũng cầm buộc. Các con cởi mở cho ai, trên trời cũng cởi mở" (Mt 16,19). Hội Thánh đã thực thi quyền bính Đức Giêsu trao phó trong cử hành Bí tích Hòa giải.

    Trong suốt chiều dài lịch sử, hình thức cử hành có thể thay đổi, nhưng vẫn luôn luôn giữ cơ cấu nền tảng với hai yếu tố quan trọng: một đàng là hành vi của hối nhân: thống hối, xưng tội, đền tội; đàng khác là hành động của Thiên Chúa qua Hội Thánh: Giám mục và Linh mục nhân danh Chúa mà tha tội và ra việc đền tội cho hối nhân. Công thức tha tội chứa đựng nội dung chính yếu của Bí tích: "Thiên Chúa là Cha hay thương xót đã nhờ sự chết và sống lại của Con chúa mà giao hòa thế gian với Chúa, và ban Thánh Thần để tha tội. Xin Chúa dùng tác vụ của Hội Thánh mà ban cho con ơn tha thứ và bình an. Vậy cha tha tội cho con, Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần".

    III. Hành vi của hối nhân.

    1. Thống hối:

    Thống hối là buồn phiền, chê ghét tội đã phạm và dốc lòng không phạm tội nữa (x. CĐ Trentô). Người ta thường phân biệt: thống hối toàn vẹn và thống hối bất toàn. Thống hối toàn vẹn là thống hối vì lòng mến, mến Chúa trên hết mọi sự. Lòng thống hối đó khiến hối nhân được tha các tội nhẹ và tha cả tội trọng nếu cương quyết lãnh nhận Bí tích Hòa giải sớm hết sức có thể. Thống hối bất toàn là thống hối vì sợ, sợ án phạt đời đời và sợ các hình phạt khác. Lòng thống hối ấy cũng là ân huệ của Thiên Chúa, thúc đẩy hối nhân làm hòa với Chúa và Hội Thánh cách trọn vẹn trong Bí tích Hòa giải.

    2. Xưng tội:

    Bằng việc xưng tội, hối nhân nhìn thẳng vào tội lỗi của mình, nhận trách nhiệm và mở lòng ra với Chúa cũng như với Hội Thánh, để sống đời sống mới. Đây là thành phần thiết yếu của Bí tích Hòa giải. Vì thế, Hội Thánh đòi hối nhân phải xưng thú mọi tội trọng, kể cả những tội thầm kín, vì "nếu bệnh nhân mà xấu hổ nên che dấu vết thương, làm sao lương y có thể biết mà chữa lành" (x. CĐ Trentô).

    Ngoài ra, còn có những đòi hỏi liên quan đến Bí tích Hòa giải:

    Mỗi tín hữu bó buộc phải xưng các tội trọng một năm ít là một lần.
    Khi biết mình đang mắc tội trọng, không được rước Mình Thánh Chúa nếu chưa xưng tội, trừ khi không thể đi xưng tội, có thể giục lòng ăn năn sám hối.
    Trước khi được Rước Lễ lần đầu, trẻ em phải lãnh nhận Bí tích Hòa giải.
    Hội Thánh cũng khuyên tín hữu xưng các tội nhẹ. Việc xưng tội thường xuyên giúp ta huấn luyện lương tâm, chiến đấu chống lại các khuynh hướng xấu, được Chúa Kitô nâng đỡ và tiến bước trong đời sống mới.

    3. Đền tội:

    Tội là hành động nằm trong tương quan với Thiên Chúa và tha nhân. Tội gây thiệt hại cho tha nhân, vì thế phải đền bù; chẳng hạn: trả lại đồ vật đã lấy cắp, khôi phục danh dự cho người khác... Ngoài ra, tội còn làm cho chính bản thân ta yếu đi và mối tương quan với Thiên Chúa và tha nhân bị tổn thương. Chính vì thế, cùng với ơn tha tội, hối nhân còn phải làm việc gì đó đền bù, và phục hồi sức mạnh thiêng liêng. Đó là ý nghĩa đền tội. Việc đền tội có thể là kinh nguyện, việc bác ái, hãm mình, phục vụ tha nhân... Cha giải tội sẽ tùy theo mức độ tội phạm của hối nhân mà ra việc đền tội cho thích hợp và ích lợi. Việc đền tội giúp ta nên giống Chúa Kitô, Đấng duy nhất đền thay tội lỗi cho ta.

    IV. Thừa tác viên của Bí tích Hòa giải.

    Thừa tác viên của Bí tích Hòa giải là các Giám mục kế vị các Tông đồ, và các linh mục là những người cộng tác của hàng Giám mục. Nhờ ân sủng lãnh nhận qua Bí tích Truyền Chức Thánh, các ngài tha thứ mọi tội lỗi "Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần". Nhờ ơn tha thứ này, các hối nhân được giao hòa với Thiên Chúa và Hội Thánh. Khi cử hành Bí tích Hòa giải, cha giải tội đóng vai trò Người Mục tử tốt lành kiếm tìm con chiên lạc, người Samari nhân hậu băng bó vết thương, người cha giàu lòng thương xót đợi chờ và hân hoan đón tiếp đứa con hoang đàng trở về; đồng thời là vị thẩm phán công bằng và thương xót. Tóm lại linh mục là dấu chỉ và khí cụ của tình thương Thiên Chúa dành cho hối nhân. Vì là tôi tớ phục vụ cho ơn tha thứ của Thiên Chúa, cha giải tội phải mang trong mình những tâm tình và ý tưởng của Chúa Kitô. Ngài phải có hiểu biết và kinh nghiệm về cuộc sống con người, phải biết tôn trọng và nhạy cảm với những ai sa ngã; đồng thời ngài phải yêu mến sự thật, trung thành với giáo huấn của Hội Thánh, và kiên nhẫn giúp hối nhân đi lên trên con đường thánh thiện. Vì sự cao cả của Bí tích và vì lòng kính trọng đối với con người, Hội Thánh đòi buộc cha giải tội phải giữ bí mật tuyệt đối về những tội hối nhân đã xưng thú. Bí mật đó được gọi là Ấn Tòa Giải Tội và cha giải tội phải tôn trọng tuyệt đối.

    V. Cử hành và hiệu quả của Bí tích Hòa giải.

    1. Cử hành:

    Thông thường, Bí tích Hòa giải được cử hành theo thể thức như sau: linh mục chào hỏi và chúc lành cho hối nhân, đọc Lời Chúa để soi sáng lương tâm và khơi dậy tâm tình thống hối; sau đó hối nhân xưng thú tội lỗi, rồi linh mục ra việc đền tội và giải tội. Cuối cùng là kinh tạ ơn và chúc lành của linh mục. Bí tích Hòa giải cũng có thể được cử hành trong khung cảnh sám hối cộng đồng. Cộng đoàn cùng cử hành Phụng vụ Lời Chúa, nghe giảng, xét mình và sám hối chung, nhưng sau đó mỗi người sẽ xưng tội riêng với linh mục. Việc cử hành này làm nổi bật ý nghĩa Hội Thánh của Bí tích Hòa giải. Trong trường hợp khẩn thiết như nguy tử, hoặc không đủ các linh mục giải tội, khiến giáo dân không thể Rước Lễ, có thể cử hành hòa giải cộng đồng và tha tội chung. Tuy nhiên, xưng tội và giải tội riêng vẫn là hình thức thông thường nhất; trong đó Chúa Kitô nói với từng người: "Cha tha tội cho con". Ngài là Thầy Thuốc chăm sóc từng bệnh nhân và dẫn đưa họ trở về với sự hiệp thông huynh đệ. Cho dù giải tội riêng, đừng quên rằng ở tự bản chất, cử hành bí tích là một hành vi phụng vụ, và vì thế mang tích công khai và Cộng đoàn Hội Thánh.

    2. Hiệu quả

    Mục đích và hiệu quả của Bí tích Hòa giải là cho ta được làm hòa với Chúa. Đây là ơn phục sinh thiêng liêng, hồi phục tư cách và phẩm giá làm con Thiên Chúa của hối nhân. Ai lãnh nhận bí tích với lòng thống hối chân thành còn cảm nhận được sự bình an và thanh thản trong tâm hồn. Cùng với hiệu quả trên, Bí tích còn hòa giải ta với Hội Thánh. Tội lỗi làm tổn thương và có khi bẻ gẫy mối hiệp thông huynh đệ. Bí tích Hòa giải khôi phục lại mối hiệp thông đó, và như thế, không những Bí tích chữa lành hối nhân mà còn ảnh hưởng tốt đẹp đến cả Hội Thánh. Đồng thời nhờ sự hiệp thông những của cải thiêng liêng trong Hội Thánh, ta được mạnh sức hơn trên đường về Quê Trời. Vào buổi xế chiều cuộc sống, mỗi chúng ta sẽ phải ra trước Tòa Chúa. Nhưng ngay từ hôm nay, khi nhận lãnh Bí tích Hòa giải, ta đã ra trước Tòa Chúa, và nhờ ơn Bí tích, ta được ngang qua cõi chết mà vào cõi sống: "Quả thật Ta bảo các ngươi: ai nghe Lời Ta và tin vào Đấng đã sai Ta thì có sự sống đời đời và khỏi đến Tòa phán xét, nhưng đã ngang qua sự chết mà vào sự sống" (Ga 5,24).

    VI. Để sống lòng sám hối.

    Ngày nay nhiều người trẻ ngại đi xưng tội, và các bạn lý luận: xưng xong rồi lại tiếp tục phạm tội, thà không xưng thì hơn. Ẩn bên trong lý luận ấy lại là sự thất vọng về chính mình, và thiếu lòng cậy trông vào Chúa. Cần ý thức rằng hoán cải là cả một hành trình dài, và phải dám tin vào tình thương tha thứ của Chúa, tình thương của người cha hằng chờ đợi chúng ta.
    Xét mình hằng ngày, chân thành thống hối và quyết tâm gắn bó với Chúa là điều ta có thể và phải làm mỗi ngày. Những việc làm đó giúp ta luôn sống trong Ơn Hòa giải, và thúc đẩy ta sống đời Kitô hữu tốt đẹp hơn.
    Không những làm việc đền tội mỗi khi đi xưng tội, Hội Thánh còn khuyên ta thực hiện nhiều hình thức đền tội khác trong cuộc sống hằng ngày. Ba hình thức quen thuộc nhất: cầu nguyện, ăn chay và làm việc bác ái. Những hình thức này vừa giúp ta chế ngự bản thân, vừa dẫn ta vào cuộc sống hài hòa với Chúa, với mọi người.

    thay đổi nội dung bởi: hoahairau, Feb 19th, 2011 lúc 22:07
    ----------------------------------------------------------------
    [Thông điệp cá nhân (Sign hoahairau's)]

    Vì phàm ai đã có, thì được cho thêm và sẽ có dư thừa; còn ai không có, thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy đi. (Mt25,19)
    ---sign---Nam Lỗ Gx http://www.gxnamlo.org -or: http://namlo.conggiao.net
    + Google+: http://gplus.to/giaoxunamlo/about
    + facebook: pages/NamLo-Parish/97778438684

    + Tumblr: Tumblr.NL/ +twitter: twitterNL +digg: diggNL +pulse: pulseNL
    Joseph, jHr, hoahairau [hoahairau@gxnamlo.org]

  6. #6
    dienHA's Avatar
    dienHA vẫn chưa có mặt trong diễn đàn Humane, Charitable vs Nurse
    _Nguyên T Ban Bác Ái - (Former Capital)__


    LỚP TRƯỞNG THÀNH
    Tham gia ngày
    Oct 2010
    Đến từ
    Hoàng Mai
    Bài gửi
    495
    Thanks
    573
    Được cảm ơn 1,527 lần trong 257 Bài chia sẻ ý nghĩa

    Mặc định 7 lý do để xưng tội

    1. Sự tha tội là tặng phẩm Chúa Giêsu trao cho chúng ta.
    Đức Kitô đã trao ban cho chúng ta Bí tích Hòa giải và muốn chúng ta tận hưởng hồng ân qua Bí tích này. Ngài nói với các linh mục tiên khởi, các Tông đồ: “Hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần. Các con tha tội cho ai thì người ấy được tha” (Ga 20:22). Chúa Kitô trao cho chúng ta Bí tích của Ân Sủng và Lòng Tha Thứ vì Ngài yêu thương tất cả chúng ta. Đó là Tặng phẩm của Lòng Thương Xót chứ không chỉ là nhiệm vụ.
    2. Chúng ta đều là tội nhân.
    Chúng ta đều là tội nhân, cần phải xét mình và sám hối để lãnh nhận ơn tha thứ. “Nếu chúng ta nói là chúng ta không có tội, chúng ta tự lừa dối mình, và sự thật không ở trong chúng ta” (1 Ga 1:8). Chúng ta thường không chân thật với lòng mình và không dùng “thầy thuốc tâm hồn” để giúp chẩn đoán chúng ta về phương diện tâm linh. Nếu bạn đau ở tay hoặc ở lưng, bạn phải đi bác sĩ. Nếu bạn bị đau ở linh hồn qua việc phạm tội, sao bạn không đi chữa bệnh tâm linh – đi xưng tội?
    3. Xưng tội là phương thế hồng ân.
    Không nên sợ xưng tội. Xưng tội là bình an. Chúng ta vui mừng lãnh nhận Bí tích Rửa tội, Bí tích Hôn phối, và Bí tích Truyền chức. Tại sao chúng ta không dùng phương kế xưng tội là cuộc chiến đấu vĩ đại nhất của người tin vào Đức Kitô? Tại sao chúng ta không vui mừng khi được Chúa Kitô tha thứ qua vị linh mục đại diện cho Thiên Chúa và giáo hội?
    4. Người ta có thể phạm những tội dẫn đến cái chết.
    Có những tội dẫn đến cái chết: “Nếu ai biết anh em mình phạm thứ tội không đưa đến cái chết, thì hãy cầu xin, và Thiên Chúa sẽ ban sự sống cho người anh em ấy; đó là nói về những ai phạm thứ tội không đưa đến cái chết. Có một thứ tội đưa đến cái chết, tôi không bảo phải cầu xin cho thứ tội ấy” (1 Ga 5:16). Tội dẫn đến cái chết và tách linh hồn chúng ta khỏi sự sống vĩnh hằng thuần khiết ở nơi Thiên Chúa Ba Ngôi. Sự ăn năn và sự tha thứ bảo toàn tâm hồn chúng ta ở trong tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân. Sự tha tội truyền ân sủng vào tâm hồn chúng ta và “phê chuẩn” sự sám hối của chúng ta.
    5. Tội lỗi gây khó chịu.
    Ma quỷ thường đè nặng chúng ta bằng tội lỗi. Tội lỗi có thể là điều tốt nếu chung ta chuyển tội lỗi thành lòng sám hối. Dĩ nhiên ma quỷ ghét điều này, nhưng Thiên Chúa và các thiên thần lại yêu thích điều đó. Do đó, hãy thoát ra khỏi tội lỗi và nghe linh mục nói: “Tôi tha tội cho bạn nhân danh Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần”.
    6. Confession unites you more fully to the Church.
    Khi bạn xưng tội, bạn nhận biết mình đã phạm tội chống lại Thiên Chúa, đồng thời chống lại những người khác, bạn đã làm suy yếu sự làm chứng của mỗi Kitô hữu. Vô tình bạn nói với những người không có niềm tin Kitô rằng: “Tất cả Kitô hữu đều giả nhân giả nghĩa” (All Christians are hypocrites). Khi bạn đi xưng tội, bạn nhận biết mình đã làm đau lòng các Kitô hữu bằng chính tội lỗi của mình. “Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau. Nếu một bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng vui chung” (1 Cr 12:26). Linh mục đại diện Thiên Chúa và giáo hội nhờ Bí tích Truyền chức, linh mục nhận lời thú tội của bạn và bảo đảm ơn tha tội của Thiên Chúa và toàn thể giáo hội.
    7. Rước lễ làm bạn mạnh mẽ hơn.
    Khi bạn rước lễ, bạn lãnh nhận Mình Máu Chúa Kitô thật, Ngài là Đấng Cứu Độ. Khi bạn xưng tội và rước lễ, bạn được kết hợp với Chúa Kitô qua Bí tích Thánh Thể. Cũng vậy, nếu bạn sống trong tội, bạn sẽ KHÔNG BAO GIỜ được lãnh nhận Thánh Thể vì bạn sẽ phỉ báng Chúa Kitô và và đáng nguyền rủa đời đời! Do đó, xưng tội là chữa lành linh hồn và làm sâu lòng yêu mến Chúa Kitô trong Bí tích Thánh Thể.


    __________________________________________________ ___
    Nguồn: thanhlinh.net
    ----------------------------------------------------------------
    [Thông điệp cá nhân (Sign dienHA's)]
    Lạy Chúa! Xin đồng hành và nâng đỡ chúng con!




    --------------------------------------------

    Thông tin liên lạc:
    Mail: vanbacxd@yahoo.com.vn hoặc bbasvhaiha@gmail.com
    SDT: 01699595438 or 01635849600
    Liên hệ BBA http://svhaiha.org/@forum/showthread.php?t=2631
    Video sự kiện hoạt động BBA: http://svhaiha.org/index.php?option=...=509&Itemid=29


  7. #7
    hoahairau's Avatar
    LỚP HUYNH TRƯỞNG
    Tham gia ngày
    Jun 2009
    Đến từ
    Hà Nội
    Bài gửi
    913
    Thanks
    89
    Được cảm ơn 763 lần trong 225 Bài chia sẻ ý nghĩa

    Mặc định

    Vấn đề về xưng tội.

    Bài viết dưới đây của LM Anrê O.P, quan tâm phân tích đến các chủ đề, các mục đề, không phải theo các bước xưng tội, tại đây các mục 1,2,3 không tuân theo thứ tự xưng tội, mà là đề mục phân tích các vấn Đề đó trong bài viết.
    Các bước xưng tội là
    1. Xét mình.
    (căn cứ xét mình, Kinh Mười Điều Răn, Sáu Sự Răn Hội Thánh, Mười Bốn Mối... Cải Tội Bảy Mối...)
    Nguyện xin Chúa Thánh Thần sáng soi cho việc xét mình của mình được đầy đủ....
    Thời gian này rất lâu và phải xét mình cho thật kỹ, xét đi xét lại nhiều lần.... từ lần xưng tội trước tới giờ đã phạm những tội nào/
    2. Ăn năn tội
    Ăn năn, dốc lòng chừa những tội đã phạm, thấy được những lỗi lầm của tội mình là nghiêm trọng và phải thật lòng ăn năn hối cải, chưa ăn năn hối cải có nghĩa là chưa ý thức được những tội đã xét trên... Nguyễn xin Chúa tha thứ tội lỗi mình phạm và dốc lòng chừa cho đến chết...
    3. Tòa cáo giải.
    (Xưng những tội đã xét ra với Cha Giải Tội... Xin xem mẫu xưng tội)
    Làm dấu, Thưa Cha con xưng tội lần thứ.... cách đây.....)......
    4. Đền tội, cảm tạ.
    Việc đền tội theo bước 3. Cha giải tội phán quyết.. Ngoài ra cần cảm tạ hồng ân Thiên Chúa, đã thương tha những tội lỗi mình đã phạm.
    >>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>> ..
    Một trong các bước kia không thực hiện, coi như việc không thành, Đừng có Rước Mình Thánh Chúa, nếu không lỗi phạm Thánh Thể..
    jHr, bổ sung phần này.


    Xưng tội bây giờ là vấn đề đáng quan tâm, một phần vi nhiều người ít hiểu nên ngại, một phần vì tội lỗi lan tràn khắp nơi, khiến cho người ta mất ý thức về tội, ít nghĩ đến tội, không còn sợ tội để mà xa lánh. Có nhiều căn cớ gây nên tình trạng này, như lương tâm bị chai lỳ không còn nhậy cảm với tội, như ít đi xưng tội nên cũng chẳng mấy khi nghĩ đến tội. Thêm vào đó là trào lưu tục hóa và khuynh hướng tương đối hóa của người thời nay.

    Vậy, thiết tưởng nên bàn về vấn đề xưng tội để hiểu cho đúng ý nghĩa, và tránh cảm nghĩ đó là một công việc nặng nhọc gần giống như một thứ khổ dịch.



    Như giáo lý dạy, xưng tội là thành phần của bí tích giải tội. Ngày nay người ta còn dùng nhiều từ khác để chỉ bí tích này như hòa giải, giao hòa, sám hối nhưng từ giải tội và xưng tội vẫn thông dụng và dễ hiểu hơn, nghĩa là có tội thì đi xưng, xung thì được tha. Chúng ta có tội xúc phạm đến Chúa, bây giờ xưng tội thì Chúa tha cho. Bởi vậy, từ giải tội vẫn gần gũi và thiết thực hơn. Nói chung một cách vắn tắt, xưng tội là xưng thú các tội xúc phạm đến Chúa và người khác với người đại diện của Chúa là cha giải tội một cách chân thành. Xưng tội là mong kết nối lại mối dây ân tình giữa mình với Chúa đã bị phá vỡ vì tội lỗi. Nay đi xưng tội là để tăng thêm tình nghĩa với Người, nếu chỉ có những lỗi phạm nhẹ ; và khôi phục lại tình nghĩa cha con, nếu như đã trót có những lỗi phạm nặng, vì khi đó là xóa bỏ ơn nghĩa, làm mất ơn thánh sủng khiến linh hồn ra đen tối. Vì thế, phải xưng tội để mỗi ngày được thêm ơn phúc và lấy lại tình trạng ơn nghĩa, nếu như đã đánh mất vì các tội trọng. Muốn xưng tội cho có kết quả tốt, cần làm những việc sau đây:


    1. Xét mình
    Nghĩa là xét xem trong thời gian từ lần xưng tôi trước cho đến bây giờ, mình đã phạm những tội nào trong mười điều răn của Chúa. Có thể xét mình dựa vào mười điều răn như vẫn thường làm xưa nay. Lại cũng có thể dựa vào các mối liên lạc của mình với Chúa, với người khác và với chình mình. Đối với Chúa, thử xét xem mình có đầy đủ bổn phận với Người không ? Bổn phận ở đây là bổn phận của thọ tạo đối với Đấng Hóa Công. Thọ tạo phải tôn thờ và biết ơn Đấng đã tạo dựng nên mình. Vậy, các việc thờ phượng, kinh lễ đối với Chúa thế nào. Các điều răn Hội thánh truyền dạy về việc tôn vinh thờ phượng Chúa, mình giữ ra sao ?
    Đó là nói chung về việc thờ phượng kinh lễ. Còn đối với người ta, thử xét xem mình có giữ đức công bình, bác ái với ngưới ta không ? Có vay mượn mà không trả hay làm thiệt hại của cải vật chất hay danh thơm tiếng tốt của người ta không ? Có ganh ghen tìm cách gièm pha nói xấu hay đối xử gay gắt bất công không ?
    Đối với bản thân, mình có lo giữ điều độ trong việc ăn uống, ngủ nghỉ và mọi sinh hoạt khác không ? Có lười biếng trong công việc bổn phận và sống vô tổ chức, vô kỷ luật không ? Cuối cùng xét xem nết xấu nào ngăn cản mình sống thân tình với Chúa.

    2. Xưng tội
    Xưng tội là cáo các tội mình đã xúc phạm đến Chúa và các người có liên hệ. Phải có lòng tin và đức khiêm nhường mới làm công việc này được. Tin để bảo mình rằng khi xưng tội là cáo tội với Chúa qua trung gian cha giải tội, và khiêm nhường để nhận mình là kẻ có tội mà sẵn sàng hạ mình xuống, không nề hà địa vị của mình trong xã hội. Thường người ta ngại xưng tội cũng vì không vượt qua được sự ngại ngùng này, khi phải xưng thú tội với một người phàm, nhưng lại được Chúa ban cho quyền cầm buộc và tháo cởi. Ngoài ra, cũng đừng quên là cha giải tội bị buộc ngăt không được tiết lộ bất cứ tội nào nghe cáo ở trong tòa. Vì thế, đừng sợ người khác biết tội mình và khi giải tội xong, cha giải tội phải đối xử với người đã xưng tội với mình, như không có chuyện gì đã xẩy ra giữa đôi bên. Vậy, cứ việc bình tĩnh cáo tội một cách chân thành và rõ rệt, nghĩa là cáo hết các tội mình đã xét và nhớ được, không giấu tội nào nhất là tội trọng, vì giấu thứ tội này là làm hư phép giải tội, là phạm sư thánh. Khi xưng tội nên xưng vắn tắt nhưng rõ ràng, để cha giải tội biết các tình tiết mà xét định là tội trọng hay tội nhẹ hầu ra viếc đền tội và lựa lời khuyên bảo cho thích hợp. Cũng nên nhớ là đừng kể tội người khác. Còn tội trọng hay nhẹ là tùy điều mình lỗi phạm thuộc loại nặng hay nhẹ. Khi biết rõ là nặng mà còn cứ phạm hay ưng thì đó là tội. Tưởng cũng nên nhắc lại ở đây câu định nghĩa của thánh Âu-tinh về tội để giúp dễ xét mình : “Tội là nói, muốn hay làm điều trái với luật Chúa và lương tâm.” (dictum, velitum, vel factum contra legem Dei et conscientiam).

    3. Ăn năn tội
    Xụt xùi hay khóc lóc sau khi xưng tội ở trong tòa không phải là điều cần thiết hay là dấu tỏ lòng ăn năn tội thật. Ăn năn tội thật là nhận rằng mình đã xúc phạm đến Chúa, đã lỗi nghĩa cùng Người, nên bây giờ lấy làm hối hận vì sự xúc phạm đó và quyết tâm sửa lại, như lời kinh ăn năn tội vẫn thường đọc : “Tôi đã cả lòng phản nghịch lỗi nghĩa cùng Chúa thì tôi lo buồn đau đớn cùng chê ghét mọi tội tôi trên hết mọi sự, tôi dốc lòng chừa cải và nhờ ơn Chúa thì tôi sẽ lánh xa dịp tội cùng làm việc đền tội cho xứng.” Hay là tự mình nói thầm những ý tưởng và tâm tình giống như vậy. Bây giờ theo nghi thức giải tội mới nên giục lòng ăn năn tội trước khi vào xưng tội, còn ở trong tòa thì lắng nghe cha giải tội đọc công thức giải tội như sau : “Thiên Chúa là cha nhân từ đã nhờ cái chết và sự sống lại của Con Mình mà hòa giải với Mình. Xin Chúa dùng thừa tác vụ của Hội thánh mà tha thứ và ban cho con được bằng an. Và cha tội cho con nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” rồi thưa Amen.

    4. Đền tội
    Sau khi khuyên bảo, cha giải tội ra việc đền tội. Việc này thường là đọc mấy kinh hay làm một vài công việc nào đó, để đền những tội đã phạm. Thực ra, những kinh hay những việc làm kia không đền bù và khỏa lấp được các tội đâu. Chính công ơn cứu chuộc của Chúa Ki-tô mới có sức đền tội. Những kinh và những việc kia chỉ là một sự nhắc nhở phải bày tỏ lòng hối tiếc và noi gương Chúa đã tự nguyện chấp nhận cái chết đau thương khổ cực để cứu chuộc chúng ta.

    5. Dốc lòng chừa
    Dốc lòng chừa là quyết chí từ bỏ đường tà để làm cho mình nên tốt hơn. Nếu cha giải tội không nói thì hỏi xem nên chọn điểm nào để sửa mình, một điểm cụ thể, ví dụ thời gian này nên chú ý đọc kinh tối trước khi đi ngủ, cố dậy sớm cho khỏi nhỡ công việc, chịu khó sửa soạn trước công việc phải làm, không tiêu xài phung phí v.v…

    6. Xưng tội đều đặn với một cha giải tội
    Người thợ máy phải xem máy móc thường xuyên mới giữ cho mày tốt và tránh được những sửa chữa quá phí tổn. Người năng xưng tôi đều đặn cũng ví được như thế. Ngoài ra là xưng với cùng một cha giải tội, vì nhờ đó cha giải tội biết rõ linh hồn mình hơn, để có thể giúp mình cách hữu hiệu. Sau khi đã chọn được cha giải tội thì nên tiếp tục xưng tội với cha ấy.

    Kết luận
    Những điều trên đây về bí tích giải tội là những điều thông thường. Nhưng vì hoàn cảnh, có thể nhiều người đã quên nên cần nhắc lại để mọi người đỡ ngại đến với bí tích này, hầu được đổi mới và luôn sống trong vòng ân tình với Chúa, mà thờ phượng Người trong niềm hoan hỉ :
    Phụng thờ Chúa với niềm hoan hỷ
    vào trước thánh nhan Người với tiếng hò reo.
    (Tv 99,2)
    L.m. An-rê Đỗ xuân Quế o.p.

    Kinh thưa Quý vị, đặc biệt các bạn trẻ,
    Trong số những người thân của chúng ta
    Không phải tất cả đều đã có máy điện toán (vi tính) hoặc có dùng email, hoặc đã có thể nhận được những tài liệu này...
    Vì vậy, xin hãy ủng hộ chúng tôi bằng cách phổ biến tài liệu này bằng email hoặc in ra, photocopy và gởi cho người thân của Quý vị.
    Đặc biệt xin gởi cho những ai chưa có sử dụng internet
    Xin chân thành cám ơn
    thay đổi nội dung bởi: hoahairau, Mar 17th, 2011 lúc 03:32
    ----------------------------------------------------------------
    [Thông điệp cá nhân (Sign hoahairau's)]

    Vì phàm ai đã có, thì được cho thêm và sẽ có dư thừa; còn ai không có, thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy đi. (Mt25,19)
    ---sign---Nam Lỗ Gx http://www.gxnamlo.org -or: http://namlo.conggiao.net
    + Google+: http://gplus.to/giaoxunamlo/about
    + facebook: pages/NamLo-Parish/97778438684

    + Tumblr: Tumblr.NL/ +twitter: twitterNL +digg: diggNL +pulse: pulseNL
    Joseph, jHr, hoahairau [hoahairau@gxnamlo.org]

  8. #8
    jhr's Avatar
    LỚP HUYNH TRƯỞNG
    Tham gia ngày
    Nov 2009
    Đến từ
    Phùng Khoang.
    Bài gửi
    1,363
    Thanks
    2,964
    Được cảm ơn 7,412 lần trong 1,122 Bài chia sẻ ý nghĩa

    Update 10 Điều Răn

    Hôm nay đọc Sách 10 Điều Răn, thấy đây là một cuốn sách hướng dẫn chúng ta xét mình, cũng như chỉ dạy cho mỗi người cách sống, lối sống hàng ngày.
    Mong ACE chúng ta đọc để sống sao cho xứng đáng nhé.


    10 Điều Răn

    Đức Giêsu đã tóm gọn các bổn phận của con người đối với Thiên Chúa qua 10 điều răn (hay còn gọi là mười lời). Và đây cũng chính là 10 điều răn Thiên Chúa ban cho dân Người: 3 lời đầu trực tiếp nhắm tới bổn phận đối với Thiên Chúa, và bảy lời sau nhắm tới bổn phận con người đối với nhau theo ý muốn Thiên Chúa.


    Điều răn thứ nhất
    THỜ PHƯỢNG VÀ KÍNH MẾN THIÊN CHÚA TRÊN HẾT MỌI SỰ

    Điều răn thứ nhất đòi buộc người tín hữu phải tuân giữ và thực hành ba nhân đức đối thần: tin, cậy mến; đồng thời tránh các tội nghịch lại các nhân đức ấy.

    I. CHỈ TÔN THỜ MỘT MÌNH THIÊN CHÚA

    Thiên Chúa đã mặc khải bổn phận tôn thờ này cách riêng cho dân Do thái – Dân được tuyển chọn để khởi đầu chương trình cứu độ của Thiên Chúa: “Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai cập, khỏi cảnh nô lệ. Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta (Xh 20, 2-3). Và hôm nay, Thiên Chúa cũng lập lại lệnh truyền ấy đối với mỗi chúng ta, qua sứ điệp của Đức Giêsu: “Ngươi phải thờ lạy Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi và phải thờ phượng một mình Người mà thôi” (Mt 4, 10).

    Khi tôn thờ Thiên Chúa, người Kitô hữu khẳng định hai thực tại: trước hết khi đối diện với sự vĩ đại của Thiên Chúa, con người nhận ra sự nhỏ bé, yếu đuối, bất lực và tội lỗi của mình; thứ hai, con người nhìn nhận sự lệ thuộc hoàn toàn vào Thiên Chúa, vào tình yêu và lòng nhân từ của Ngài. Đồng thời, họ nhận ra rằng chỉ Thiên Chúa mới có thể làm thỏa mãn những thiếu thốn và khát vọng khôn nguôi của con người. Thánh Augustinô đã từng nói: Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Chúa, và lòng con luôn khắc khoải chờ mong cho đến khi được nghỉ ngơi bên Chúa.

    Tôn thờ Thiên Chúa là nhìn nhận sự hư vô, bất lực của mình, nên phải lệ thuộc hoàn toàn vào Thiên Chúa là Đấng Sáng tạo và cứu chuộc duy nhất. Tôn thờ Thiên Chúa là làm như Đức Maria: ca tụng, tôn vinh Thiên Chúa, chấp nhận thân phận hèn mọn với lòng tri ân, cảm tạ (Xc. Lc 1, 46-55). Thờ phượng Thiên Chúa như vậy là thể hiện lòng tin cậy mến đối với Thiên Chúa.

    1. Đức Tin

    Đời sống người kitô hữu bắt nguồn trong lòng tin vào Thiên Chúa, Đấng mặc khải tình yêu của Người cho nhân loại. Tin mà vâng phục Thiên Chúa là nghĩa vụ hàng đầu của người tín hữu (Xc. Rm 1, 5; 16, 26). Những lệch lạc và sai lầm về luân lý bắt nguồn từ chỗ không tin Thiên Chúa, hoặc từ chối tin vào Người. Cho nên, điều răn thứ nhất đòi hỏi ta phải nuôi dưỡng và gìn giữ đức tin cách cẩn trọng.

    2. Đức Cậy

    Trông cậy là hết lòng mong đợi được Thiên Chúa chúc phúc ở đời này và được hạnh phúc với Người ở đời sau. Đức cậy cũng bao hàm thái độ sợ mất lòng Chúa và bị trừng phạt.

    3. Đức Mến

    Khi tin vào Thiên Chúa, con người phải tỏ lòng yêu mến Thiên Chúa bằng một tình yêu chân thành. Điều răn thứ nhất dạy chúng ta “yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta hết lòng, hết dạ, hết sức mình (Xc. Đnl 6, 4-5; Mt 22, 37). Đức mến Kitô giáo cũng đòi buộc chúng ta yêu thương mọi loài thọ tạo, đặc biệt là người anh em của mình: “Ngươi phải yêu thương người thân cận như chính mình” (Xc. Mt 22, 39).

    II. NHỮNG HÌNH THỨC TÔN THỜ THIÊN CHÚA

    Mọi hành vi luân lý đều được coi là những hành vi tôn thờ Thiên Chúa. Tuy nhiên, việc tôn thờ Thiên Chúa được diễn tả một cách rõ ràng dưới bốn hình thức: cầu nguyện; lễ tế; những hành vi thờ lạy và tôn kính: cúi đầu, bái lạy; và các lời khấn hứa

    Thờ lạy và tôn kính

    Hành vi đầu tiên của việc tôn thờ Thiên Chúa thờ lạy Thiên Chúa, nghĩa là nhận biết Người là Thiên Chúa, là Đấng Sáng Tạo và Cứu Độ, là Chúa và là Thầy của mọi loài, là Đấng đầy yêu thương và giàu lòng thương xót.

    Cầu nguyện

    Các hành vi tin cậy mến được hoàn tất trong kinh nguyện. Vì cầu nguyện là nâng tâm hồn lên tới Thiên Chúa để chúc tụng, tạ ơn, ngợi khen và cầu xin Người. Cầu nguyện là điều kiện thiết yếu giúp ta tuân giữ giới răn của Thiên Chúa.

    Lễ tế

    Kết hợp với Lễ Tế của Đức Giêsu trên Thập giá, chúng ta hãy biến cuộc đời của mình thành những lễ tế dâng lên Thiên Chúa để tỏ lòng thần phục, suy tôn và yêu mến Ngài. Mọi hành vi con người thực hiện để được kết hiệp với Thiên Chúa đều là lễ tế đích thực.

    Lời khấn và lời hứa

    Một số bí tích của Hội thánh như: Bí tích Thanh Tẩy, Thêm Sức, Hôn Phối và Truyền Chức luôn kèm theo những lời hứa. Vì vậy người Kitô hữu được mời gọi tuyên hứa với Thiên Chúa thực hiện một hành vi tốt, một kinh nguyện, một việc bác ái, hay một cuộc hành hương, để tỏ lòng tôn kính và yêu mến Ngài.

    Lời khấn là một hành vi đạo đức, nhờ đó người tín hữu tự hiến cho Thiên Chúa, hay hứa thực hiện một việc tốt dâng kính Ngài. Hội thánh nhìn nhận giá trị gương mẫu của những lời khấn sống theo ba lời khuyên Tin mừng.

    III. CÁC TỘI NGHỊCH ĐIỀU RĂN THỨ NHẤT

    Điều răn thứ nhất cấm tôn thờ các thần khác ngoài Đức Chúa là Thiên Chúa duy nhất. Điều răn này cũng cấm mọi hình thức mê tín dị đoan và vô tôn giáo.

    1. Mê Tín

    Mê tín là lệch lạc trong tâm tình tôn giáo, một lòng đạo đức quá đáng và sai trái. Mê tín cũng là việc tin những điều nhảm nhí, hão huyền, không có cơ sở khoa học.

    2. Thờ Ngẫu Tượng

    Thờ ngẫu tượng là tôn thờ và kính bái một thụ tạo thay vì Thiên Chúa, cho dù đó là thần linh hay ma quỉ, quyền lực, danh vọng…

    3. Bói Toán Và Ma Thuật

    Mọi hình thức bói toán, ma thuật nhằm biết vận mệnh tương lai, đều trái nghịch với lòng tôn thờ và phó thác cho một mình Thiên Chúa. Những cách thức thực hành ma thuật hay phù thủy nhằm có một quyền hành bí ẩn trên người khác, đều nghịch với đức thờ phượng.

    4. Vô Tôn Giáo

    Dùng lời nói hoặc hành vi để thử quyền năng của Thiên Chúa: Phạm thánh hoặc mua thần bán thánh.

    Phạm thánh là xúc phạm hay cư xử bất xứng đối với các bí tích, các hành vi phụng vụ; hoặc xúc phạm đến những người đã được thánh hiến, đồ vật và những nơi đã thánh hiến cho thiên Chúa.

    Mua thần bán thánh là dùng tiền bạc để mua những thực tại thiêng liêng (ân sủng).

    5. Thuyết Vô Thần

    Thuyết vô thần nghịch với nhân đức thờ phượng, vì từ chối hay phủ nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa, để đặt tất cả hy vọng, hạnh phúc, cùng đích nơi vật chất.

    6. Thuyết Bất Khả Tri

    Thuyết này không chối bỏ Thiên Chúa, nhưng chủ trương Thiên Chúa không thể mặc khải cho con người, và con người không thể biết gì, nói gì về Thiên Chúa.


    Điều răn thứ hai
    TÔN KÍNH DANH THÁNH CHÚA

    Ngươi không được kêu tên Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi mà làm điều bất xứng (Xh 20, 7; Đnl 5, 11)

    Điều răn thứ hai cũng thuộc về nhân đức thờ phượng như điều răn thứ nhất, nhưng liên quan trực tiếp đến Danh Thánh Chúa và các sự thánh : không những chỉ tôn kính Danh Thánh Chúa mà còn phải tôn kính những người, những vật đã được dâng hiến cho Thiên Chúa.

    I. DANH THIÊN CHÚA LÀ THÁNH

    Khi mặc khải danh thánh cho con người, Thiên Chúa đã bày tỏ chính mầu nhiệm bản thân Ngài. Danh của Thiên Chúa là Thánh (Xc. Lc 1, 49) nên con người không được lạm dụng. Họ phải tôn kính Danh Thánh Chúa, loan truyền và làm chứng Danh Thánh ấy cho mọi người: “Chúng con nguyện danh Cha cả sáng”. Tôn kính Danh Thiên Chúa là tôn kính chính Thiên Chúa.

    Điều răn thứ hai cấm lạm dụng Danh Thánh Chúa, Đức Giêsu, Mẹ Maria, và toàn thể các thánh, chẳng hạn dùng danh các Ngài để thề thốt, chửi rủa: “Ai nói phạm đến Danh Đức Chúa, sẽ bị xử tử” (Lv 25, 16). Điều răn thứ hai cũng dạy ta tôn trọng người, vật, và những nơi thánh, như các linh mục, tu sĩ, nhà thờ, đất thánh, ảnh tượng đã làm phép… đặc biệt là tôn kính các bí tích, nhất là Bí tích Thánh Thể.

    II. LẠM DỤNG DANH THÁNH CHÚA

    Điều răn thứ hai cấm thề gian. Thề là lấy Chúa làm chứng cho điều mình xác quyết, là kêu cầu Thiên Chúa chân thật để bảo đảm mình nói thật.

    Người tín hữu có bổn phận phải bài trừ thói thề gian. Vì Thiên Chúa là Đấng Sáng Tạo và là Đấng hoàn toàn chân thật, nơi Ngài không có mảy may gian dối. Cho nên mọi lời nói, hành vi gian dối đều trái nghịch với Thiên Chúa.

    Thề gian là lấy Danh Chúa làm chứng cho sự gian dối của mình. Bội thề là hứa với Thiên Chúa điều gì đó mà sau đó lại không giữ lời. Thề gian và bội thề đều là những tội nặng xúc phạm đến Thiên Chúa.

    III. TÊN GỌI KITÔ HỮU

    Khi lãnh nhận bí tích Thánh tẩy, chúng ta trở thành Kitô hữu, nhờ kêu cầu Danh Thánh Ba Ngôi Thiên Chúa, và từ đó, chúng ta mang một tên mới trong cộng đoàn Hội thánh. Đó là tên của Đức Maria hay của một vị thánh. Nhận một vị thánh làm bổn mạng là cố gắng bắt chước gương mẫu tốt lành của vị thánh ấy, và được ngài bảo đảm chuyển cầu cho ta trước mặt Chúa.
    Mỗi khi bắt đầu ngày mới, khởi đầu cầu nguyện và làm việc, người Kitô hữu làm dấu Thánh Giá, kêu cầu Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, để xin Ngài ban ân sủng, hầu chúng ta có thể làm vinh danh Chúa.


    Điều răn thứ ba
    THÁNH HÓA NGÀY CHÚA NHẬT

    I. NGÀY SABÁT

    Điều răn thứ ba của Thập Điều nhắc lại sự thánh thiện của ngày sabát: “Ngày thứ bảy là ngày sabát, một ngày nghỉ hoàn toàn để dâng cho Đức Chúa” (Xh 31,15). Đối với dân Israsel, ngày sabát nhắc lại công trình sáng tạo của Thiên Chúa (Xh 20,11), đồng thời nhớ đến việc giải phóng Israel khỏi ách nô lệ Ai Cập (Đnl 5,15). Như vậy, dân được chọn phải tuân giữ ngày sabát như dấu chỉ của giao ước vững bền. Hành động của Thiên Chúa phải là mẫu mực cho hành động của con người, nếu Thiên Chúa đã nghỉ ngơi ngày thứ bảy thì con người cũng phải nghỉ, phải thôi làm việc ngày ấy (Xh 31,17).

    Về ngày sabát, chúng ta thấy Đức Giêsu công nhận sự thánh thiêng của ngày này và Người cũng đã dùng thẩm quyền thần linh để đưa ra lời giải thích đích thực về ngày này: “Ngày sabát được lập ra vì loài người chứ không phải loài người vì ngày sabát” (Mc 2,27).

    II. CHÚA NHẬT- NGÀY SABÁT VIÊN MÃN

    Ngày Chúa nhật là ngày phục sinh của Đức kitô, là “ ngày thứ nhất trong tuần” (x. Mt 28,1; Mc 16,2; Lc 24,1; Ga 20,1), ngày Chúa nhật gợi lại cuộc sáng tạo lần thứ nhất; là “ngày thứ tám” tiếp sau ngày sabát, ngày Chúa nhật biểu trưng một cuộc sáng tạo mới được khởi đầu bằng cuộc phục sinh của Đức kitô. “Đây là ngày Chúa đã làm ra, nào ta hãy vui mừng hoan hỷ” (Tv 118,24). Như thế, đối với các kitô hữu, ngày Chúa nhật trở thành ngày thứ nhất của mọi ngày và của tất cả mọi ngày lễ: ngày của Chúa; trong ngày này, nhờ cuộc vượt qua, Đức Kitô hoàn tất ý nghĩa thiêng liêng ngày sabát của người Do Thái, và loan báo sự an nghỉ đời đời của con người trong Thiên Chúa.

    III. THÁNH LỄ CHÚA NHẬT

    Ngay từ thời các Tông đồ, Chúa nhật là ngày quy tụ các tín hữu để cử hành Thánh Thể (x. Cv 2,42-46). “Chúa nhật là ngày mà theo truyền thống Tông đồ, mầu nhiệm phục sinh vẫn được cử hành, sẽ phải được giữ trong toàn thể Hội Thánh như ngày lễ buộc chính yếu” (GL 1246).

    Như vậy, tất cả các tín hữu trong cộng đoàn giáo xứ họp nhau cử hành thánh lễ Chúa nhật chung quanh Linh mục, được Đức Giám mục uỷ quyền. Chính tại cộng đoàn giáo xứ này mà mọi sinh hoạt phụng vụ, việc dạy giáo lý, các công tác từ thiện được hình thành và tiến triển. Tham dự thánh lễ Chúa nhật là một bằng chứng trung thành với Chúa Kitô và với Giáo hội, đồng thời qua việc cùng chia sẻ bàn tiệc thánh, các tín hữu hiệp thông với nhau trong tin yêu, nâng đỡ và khuyến khích nhau.

    IV. THÁNH HOÁ NGÀY CHÚA NHẬT

    Ngoài việc tham dự thánh lễ là bổn phận trước tiên và chủ yếu để thánh hoá ngày Chúa nhật (xc. GL 1247), người tín hữu còn dành ngày đó cho những việc hữu ích và cần thiết khác theo ý muốn của Chúa như làm việc bác ái từ thiện, thăm viếng bệnh nhân, an ủi người nghèo khổ, cô thế cô thân… Ngoài ra, cũng cần phải có thời giờ để sống với gia đình, trau dồ i văn hoá nghệ thuật, thăm viếng bạn bè… (xc. Mv 67)



    Điều răn thứ tư
    THẢO KÍNH CHA MẸ

    “Hãy thảo kính cha mẹ ngươi để ngươi được sống lâu trên đất mà Thiên Chúa đã ban cho ngươi” (Xh 20,12)

    “Ai yêu người thì đã chu toàn lề luật” (Rm 13,8)

    Tình yêu ấy trước tiên phải dành cho tổ tiên ông bà, cha mẹ… là những người có công sinh thành và dưỡng dục ta. Đây cũng là một đòi hỏi rất hợp với truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam. Khi gia đình thực sự là cộng đoàn tình yêu và sự sống, gia đình sẽ đóng góp rất nhiều cho việc xây dựng xã hội, bình an hạnh phúc. Ngoài bổn phận đối với cha mẹ, điều răn thứ tư còn bàn về bổn phận của học trò đối với thày dạy, công nhân đối với chủ, thuộc hạ đối với thủ trưởng và người công dân đối với đất nước.

    I. GIA ĐÌNH TRONG KẾ HOẠCH CỦA THIÊN CHÚA

    1. Bản Chất Của Gia Đình

    Khi sáng tạo người nam và người nữ, Thiên Chúa đã thiết lập gia đình con người. Gia đình được xây dựng trên giao ước và sự ưng thuận tự do của hai người nam và nữ hướng tới lợi ích và việc sinh sản giáo dục con cái. Vì thế, cha mẹ cùng với con cái có những mối liên hệ mật thiết và tự nhiên trong cơ chế gia đình, nơi đó mọi thành viên đều bình đẳng với nhau về phẩm giá nhưng có những trách nhiệm, quyền lợi và bổn phận khác nhau để phục vụ lợi ích chung của gia đình và xã hội.

    2. Gia Đình Kitô Giáo

    Gia đình kitô giáo không chỉ mang những đặc tính trên, mà còn hơn thế nữa, đó là sự hiệp thông giữa người có đức tin, cậy, mến phải mang dấu vết và hình ảnh của sự hiệp thông giữa Thiên Chúa Ba Ngôi và hiệp thông trong Hôi Thánh. Vì thế, gia đình được gọi là “Giáo hội tại gia” (xc. FC 21). Thật vậy, việc sinh sản và giáo dục con cái trong gia đình phản ánh công trình sáng tạo của Thiên Chúa.

    Gia đình kitô giáo còn được kêu gọi để tham dự vào việc cầu nguyện và hiến tế của Chúa Kitô. Gia đình kitô giáo mang sứ mạng loan báo Tin Mừng truyền giáo, đồng thời là nơi để thể hiện “Sự đồng tâm nhất trí giữa vợ chồng và cùng nhau cộng tác trong việc giáo dục con cái” (x. GS 52,1).

    II. GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI

    Gia đình là tế bào nguyên thuỷ của đời sống xã hội, là xã hội tự nhiên, nơi đó, vợ chồng được mời gọi liên kết với nhau trong tình yêu và trong việc trao ban sự sống. Vì là nguyên thuỷ cho nên các nguyên tắc và giá trị của gia đình tạo thành nền tảng cho đời sống xã hội. Đời sống gia đình là khởi điểm cho đời sống xã hội.

    Vì gia đình có tầm ảnh hưởng quan trọng đối với sự sống và sự lành mạnh xã hội (MV 47), nên xã hội có trách nhiệm nâng đỡ và củng cố hôn nhân và gia đình. Chính quyền phải “Tôn trọng, bảo vệ và cổ võ bản chất đích thực của hôn nhân và gia đình, phải bảo vệ nền luân lý cộng đồng và tạo thuận lợi giúp gia đình được sung túc” (MV 52), cụ thể là bảo đảm cho gia đình:
    - Quyền tự do xây dựng tổ ấm, tự do sinh sản và dưỡng dục con cái theo xác tín luân lý và tôn giáo của mình.
    - Quyền tự do tuyên xưng và truyền bá đức tin
    - Bảo vệ sự bền vững của dây hôn phối, quyền tư hữu, quyền có công ăn việc làm, quyền cư trú, quyền di cư, quyền được bảo vệ an ninh và lành mạnh như đối với các nguy hiểm về ma tuý, cờ bạc, rượu chè, khiêu dâm… (xc. MV 47)


    III. BỔN PHẬN CỦA CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH

    1. Bổn Phận Của Con Cái

    Vì ơn nghĩa sinh thành con cái phải hiếu thảo biết ơn, ngoan ngoãn và vâng phục cha mẹ (xc. Xh 20,12; Hc 7,29-30; Cn 6,20-22). Nhờ những tương quan tốt đẹp với anh em, con cái góp phần làm tăng thêm sự hoà thuận và thánh thiện của toàn bộ đời sống gia đình. Khi cha mẹ nghèo túng, bệnh tật, cô đơn hay già yếu, con cái đã trưởng thành phải trợ giúp các ngài về mặt vật chất và tinh thần (xc. Mc 7,10).

    2. Bổn Phận Của Cha Mẹ

    Cha mẹ đã sinh thành thì phải dưỡng dục con cái về mọi mặt nhân bản cũng như đức tin như lời khuyên của Công Đồng Vaticanô II trong tuyên ngôn về giáo dục: “Vai trò của cha mẹ trong việc Giáo Dục con cái thật là quan trọng đền nỗi hầu như không ai thay thế được” (GD 3).

    Vì được tham dự vào tình phụ tử của Thiên Chúa, cha mẹ là người đầu tiên có trách nhiệm giáo dục con cái và cũng là người đầu tiên giáo dục đức tin cho con cái. Họ có nhiệm vụ yêu thương và tôn trọng con cái, là những nhân vị và con cái của Thiên Chúa, họ có nhiệm vụ cung cấp cho con cái, theo hết khả năng mình, những nhu cầu vật chất và tinh thần, đồng thời chọn cho chúng những trường học thích hợp, và với những lời khuyên khôn ngoan, giúp chúng chọn lựa nghề nghiệp hay bậc sống. Đặc biệt cha mẹ có sứ vụ giáo dục đức tin kitô giáo cho con cái. Việc giáo dục này chủ yếu bằng gương sáng, kinh nguyện, dạy giáo lý trong gia đình và tham dự vào đời sống Giáo hội.

    IV. GIA ĐÌNH VÀ ƠN CHÚA GỌI

    Các mối liên hệ trong gia đình, dù rất quan trọng, nhưng không phải tuyệt đối, bởi vì ơn gọi tiên quyết của người kitô hữu là bước theo Đức Kitô bằng cách yêu mến Người “Ai yêu cha mẹ hơn Thầy thì không đáng làm môn đệ Thầy Ai yêu con trai con gái mình hơn Thầy thì không đáng làm môn đệ Thầy” (Mt 10,37). Vì thế, cha mẹ phải vui mừng giúp đỡ con cái bước theo Chúa Giêsu trong tất cả các bậc sống, kể cả trong đời sống thánh hiến hay thừa tác vụ Linh mục.

    V. NHỮNG BỔN PHẬN CỦA CÁC THÀNH VIÊN TRONG XÃ HỘI

    1. Bổn Phận Nhà Cầm Quyền

    Nhà cầm quyền trong xã hội đã lãnh nhận quyền bính từ Thiên Chúa thì phải biết dùng nó để phục vụ con người (Xc. Mt 20,26). Không ai có quyền truyền dạy và thiết lập những gì trái với phẩm giá của con người và nghịch với luật tự nhiên, nhưng phải chứng tỏ mình biết đúng thứ tự các giá trị, để giúp mọi người sử dụng tự do và thi hành trách nhiệm.

    Người có trách nhiệm phải khôn ngoan sử dụng quyền phân phối để sắp đặt cho công bằng, bằng cách quan tâm đến những nhu cầu và sự đóng góp của mỗi người, cũng như nhằm duy trì sự hoà thuận và bình an, không để cho lợi ích cá nhân đối nghịch với lợi ích cộng đồng (x. Bách chu niên 25)

    Chính quyền phải tôn trọng những quyền căn bản của con người. Những quyền chính trị đi đôi với quyền công dân phải được thừa nhận tuỳ theo đòi hỏi của công ích. Không được tước các quyền đó khi không có lý do hợp pháp và tương xứng. Việc thi hành các quyền chính trị là nhằm mưu ích chung cho quốc gia và cộng đồng nhân loại.

    2. Bổn Phận Người Công Dân

    Những người phục quyền phải coi cấp trên như những người đại diện Thiên Chúa (xc. 1Pr 2,13.16). Trong việc cộng tác với cấp trên, cấp dưới có quyền can gián cấp trên về những gì có thể nguy hại cho phẩm giá con người và lợi ích của cộng đồng.

    Bổn phận của người công dân là góp phần với chính quyền để mưu ích cho xã hội trong tinh thần thành thật, công bằng, liên đới và tự do. Công dân phải yêu mến và phụng sư tổ quốc. Phải phục tùng nhà cầm quyền và đồng trách nhiệm đối với công ích để nộp thuế, đi bầu cử, bảo vệ xứ sở đúng như luân lý đòi hỏi (xc. Rm 13,7).

    Theo lương tâm người công dân không được vâng phục những mệnh lệnh của chính quyền dân sự, khi chúng đi ngược lại các đòi hỏi của trật tự luân lý và quyền căn bản của con người (xc. MV 74; Cv 5,29).

    Điều răn thứ năm
    TÔN TRỌNG SỰ SỐNG

    Phải tôn trọng sự sống, vì sự sống là qùa tặng quý giá nhất Thiên Chúa ban cho con người. Vì thế, điều răn thứ năm dạy “không được giết người”, hơn thế nữa còn phải tôn trọng sự sống toàn diện và trong mọi chiều kích.

    I. TÔN TRỌNG SỰ SỐNG CON NGƯỜI

    Sự sống có giá trị linh thánh, sự sống do chính Thiên Chúa tạo dựng, và mãi mãi có liên hệ với Đấng Tạo Hoá là cùng đích của nó.

    Cựu Ước luôn coi máu như là dấu hiệu linh thánh của sự sống (Lv 17,14) và xác định rằng: “ngươi không được giết người vô tội cũng như người công chính” (Xh 23,7). Giết người vô tội là xúc phạm nặng đến phẩm giá con người và đến sự thánh thiện của Đấng Tạo Hoá.

    Chính Chúa Giêsu đã nhắc lại lệnh truyền “ngươi không được giết người” (Mt 5,21) và còn thêm rằng: “không được giận, ghét hoặc oán thù” (Mt 5,22) và “phải yêu cả kẻ thù” (Mt 5,44). Chính Người cũng đã không tự vệ khi bị bắt trói và còn ra lệnh cho ông Phêrô: “hãy cất gươm vào vỏ” (Mt 26,52).

    II. TỰ VỆ CHÍNH ĐÁNG

    Nếu vì bảo vệ sự sống mình mà phải giết kẻ gây hấn, thì không phạm tội giết người. Sự tự vệ chính đáng này không những là một quền mà còn là bổn phận cốt yếu của những ai có trách nhiệm đối với người khác, đối với lợi ích chung của gia đình hay xứ sở.

    Giáo huấn truyền thống của Hội Thánh công nhận rằng chánh quền hợp pháp có quền và bổn phận trừng phạt tuỳ theo tội nặng nhẹ, và trong các trường hợp tội rất nặng thì được phạt tử hình.

    III. NHỮNG TỘI NGHỊCH ĐIỀU RĂN THỨ V

    1. Tội cố ý giết người

    Ai trực tiếp và cố ý giết người là phạm tội nặng. Kẻ giết người cũng như kẻ cố ý cộng tác trong việc giết người đều phạm tội kêu oán thấu trời (x. St 4, 10). Giết con cái, anh em, cha mẹ, người bạn hôn phối của mình là những tội nặng đặc biệt, vì cắt đứt cả tình máu mủ tự nhiên. Ai gián tiếp giết người, nghĩa là để mặc cho người khác phải nguy tử, hoặc từ chối giúp người đang gặp nguy tử cũng phạm đến điều răn này.

    2. Phá thai

    Phải tuyệt đối tôn trọng và bảo vệ sự sống con người ngay từ lúc thụ thai làm người. Đã là người, là phải được nhìn nhận có quền của con người, trong đó quền được sống của con người vô tội là quền bất khả xâm phạm (x. CDF 1,1). Ngay từ khi thụ thai, bào thai phải được đối xử như một nhân vị, được bảo vệ toàn vẹn, được chăm sóc chữa trị như mọi người khác.

    Ngay từ thế kỷ I, Hội Thánh đã khẳng định rằng việc cố tình phá thai là trái luân lý. Đến nay giáo huấn này vẫn không hề thay đổi. Trực tiếp phá thai nghĩa là dùng việc phá thai như mục đích, hay một phương tiện đều trái luật luân lý nặng. Cộng tác vào việc phá thai cũng là tội nặng. Hội Thánh phạt vạ tuyệt thông cho tội đó “Ai thực hiện việc phá thai có kết qủa thì mắc vạ tuyệt thông” (CIC số 1348).


    3. Làm chết êm dịu

    Những người đau yếu, khuyết tật cần được nâng đỡ để sống đời bình thường như có thể được. Trực tiếp làm cho họ được chết êm dịu, là không thể chấp nhận được về luân lý, dù với bất cứ lý do hay phương tiện nào, vì nghịch với phẩm giá con người và xúc phạm đến Thiên Chúa, Đấng Tạo Hoá. Nếu ngưng dùng các thuốc qúa tốn kém, nguy hiểm, qúa khác thường hoặc không xứng với kết qủa mong muốn, và vì thế đương sự phải chết thì hợp pháp. Nhưng việc này phải được chính bệnh nhân, hay người hưởng quyền trước pháp luật quyết định.

    4. Tự sát

    Mỗi người có trách nhiệm trước Thiên Chúa về sự sống của mình, vì Thiên Chúa mới là chủ tối cao của sự sống, phần ta phải đón nhận sự sống với lòng biết ơn, và bảo vệ nó vì danh dự và vì ơn cứu độ cho linh hồn. Ta chỉ là ủan lý chứ không làm chủ sự sống. Tự sát là tội nặng nghịch lý với đức công bằng, đức cậy và đức ái, vì nó nghịch với bản năng sinh tồn, nghịch nặng với lòng yêu mình cách chính đáng, xúc phạm đến đức yêu người, vì cắt đứt cách bất công mối tình liên đới bó buộc mình phải có với gia đình, đất nước và nhân loại, nhất là nghịch với Thiên Chúa hằng sống.

    Cố ý cộng tác vào việc tự sát là việc trái luân lý. Tự sát vì bị thần kinh rối loạn nặng, vì qúa âu lo sợ hãi trước thử thách, trước đau khổ, hoặc bị tra tấn thì trách nhiệm giảm đi. Chúng ta không nên tuyệt vọng coi người tự sát là đã mất ơn cứn độ, vì Thiên Chúa có đủ cách để tạo cơ hội cho họ ăn năn sám hối.

    IV. TÔN TRỌNG PHẨM GIÁ CON NGƯỜI

    Điều răn thứ V không chỉ dừng lại ở những cấm đoán, nhưng còn mời gọi tôn trọng sự sống cách tích cực và toàn diện.

    1. Tôn trọng sự sống thiên liêng

    Làm gương xấu là cám dỗ người khác, là phá hoại những nhân đức và sự ngay chính, là lôi kéo người khác vào chỗ mất linh hồn. Gương xấu là tội nặng, khi dùng hành động hay không hành động để cố tình làm cho người khác phạm tội nặng.

    Gương xấu trở thành tội nặng nhẹ tuỳ theo uy thế của người gây ra và tuỳ theo sự yếu đuối của người chịu ảnh hưởng của nó. “Những ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin Thầy đây phải sa ngã, thì thà treo cối đá lớn vào cổ nó mà xô cho chìm xuống đáy bi ển còn hơn” (Mt 16,8). Luật pháp, cơ chế, thời trang, dư luận, đều có thể gây gương xấu, làm gương xấu thì phải chịu trách nhiệm về hậu qủa xấu mà mình trực tiếp hay gián tiếp gây ra. “không thể không có gương xấu, nhưng khốn cho ai làm gương xấu” (Lc 17,1).

    2. Tôn trọng sức khoẻ

    Sự sống và sức khoẻ phần xác là những của cải quý báu Thiên Chúa trao ban, ta phải chăm sóc cho hợp lý, đồng thời phải tôn trọng những nhu cầu của người khác và của công ích.

    Xã hội phải trợ giúp để chăm lo sức khoẻ cho công dân có đủ điều kiện sinh sống để phát triển và đạt tới mức trưởng thành như: ăn, mặc, nhà cửa, việc làm, trường học… Tuy nhiên, luân lý không cổ võ cho việc tôn thờ thân xác, dùng tất cả mọi sự chỉ để lo sắc đẹp và thành công về thể thao.

    Cần phải giữ nhân đức tiết độ, tránh mọi thứ thái quá về ăn nhậu, hút thuốc…Những người nghiện rượu hay ham chạy xe tốc độ cao, gây nguy hiểm đến sự an toàn của người khác, cũng như chính mình đều có tội nặng.

    Dùng ma tuý làm huỷ hoại sức khỏe và sự sống mình là tội nặng, trừ khi để chữa bệnh thật sự. Việc lén sản xuất và buôn lậu ma tuý đều là hành vi gây gương xấu, vì là trực tiếp để dẫn tới những việc trái luân lý nặng.

    3. Tôn trọng con người và nghiên cứu khoa học

    Những nghiên cứu khoa học, y học hay tâm lý học về con người hoặc về các nhóm người, có thể giúp chữa trị bệnh tật và thăng tiến sức khoẻ của con người. Nhưng để tìm tòi và nghiên cứu trên thân thể con người, không thể cho hép những hành vi tự chúng nghịch với phẩm giá con người và luật luân lý, dù đương sự đó có ưng thuận cũng không được. Việc thí nghiệm như thế cũng không hợp pháp, nếu nó có thể gây cho sự sống hoặc sự vẹn toàn thể lý hay tâm lý của đương sự những rủi ro không tương xứng và có thể tránh được. Những thí nghiệm trên thân thể con người đều không phù hợp với phẩm giá con người, nếu lại không được đương sự hay người có thẩm quyền ưng thuận rõ ràng.

    4. Tôn trọng sự toàn vẹn của thân thể

    Những vụ bắt cóc và bắt làm con tin để gây kinh hoàng, đe doạ và gây áp lực khủng khiếp cho nạn nhân, đều không hợp luân lý. Việc khủng bố bằng đe doạ, gây thương tích và giết chết không cần phân biệt gì cả, là nghịch nặng với đức công bằng và bác ái. Việc tra tấn dùng bạo lực đối với thân xác hay tinh thần cốt để lấy cung, để trừng phạt phạm nhân, gây khiếp sợ cho kẻ chống đối, thoả mãn lòng căm thù, đều nghịch với sự tôn trọng con người và phẩm giá họ.
    Việc cố ý trực tiếp cắt bỏ hoặc làm vô sinh một phần thân thể của những người vô tội đều trái luật luân lý, trừ khi có lý do chữa trị theo y học.

    5. Tôn trọng người chết

    Phải chú ý chăm sóc người đang hấp hối, để giúp họ sống những giây phút cuối đời trong danh dự và an bình, bằng lời cầu nguyện, và giúp họ lãnh các Bí tích để họ sửa soạn gặp gỡ Thiên Chúa. Xác người qua đời phải được kính trọng, yêu mến với niềm tin và hy vọng xác sẽ sống lại. Việc chôn cất kẻ chết là việc thương xót thể xác, để tỏ lòng yêu mến con cái Thiên Chúa, là đền thờ Chúa Thánh Thần. Việc hiến tặng các phần thân thể sau khi chết là hợp pháp và đáng khen. Hội thánh cho phép hoả táng nếu không tổn hại đến niềm tin về việc xác sống lại (x. CIC số 1176,3).

    V. BẢO VỆ HOÀ BÌNH

    Khi Chúa dạy: “chớ giết người” là đòi hỏi có hoà bình trong tâm hồn, và tố cáo rằng sự giận ghét đến giết người là vô luân lý.

    Muốn trả thù cho điều xấu do người đáng phải phạt gây ra là bất hợp pháp, nhưng nên bắt họ đền bù để họ sửa tính xấu và gìn giữ công bằng. Nếu giận đến nỗi cố tình giết hay gây thương tích nặng thì phạm tội nghịch đức ái (x. Mt 5 22).

    Ghét người là tội cố ý muốn điều xấu cho họ. Ghét người thành một tội nặng khi cố ý muốn điều nặng cho họ. “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em” (Mt 5,44-55).

    “Hoà bình không hẳn là vắng bóng chiến tranh, cũng không giản lược vào việc cân bằng giữa các lực lượng đôi bên” (MV 78). Không thể có hoà bình ở trần gian nếu không duy trì được những lợi ích của mọi người, sự giao lưu tự do giữa mọi người, sự tôn trọng phẩm giá con người, các dân tộc và tình huynh đệ bền vững. Hoà bình là “có trật tự yên ổn”, là “công trình của công bằng”, là “là hiệu qủa của đức ái” (x. MV 78). Hoà bình dưới thế là hình ảnh hoa trái của hoà bình Chúa Kitô, Đấng là “Hoàng tử hoà bình” (Is 9,5), là Đấng đã tuyên bố “Phúc cho ai xây dựng hoà bình” (Mt 5,9).

    Tránh chiến tranh. Vì cuộc chiến tranh nào cũng gây ra những tai hoạ và bất công, Hội thánh thôi thúc mọi người cầu nguyện và hoạt động để “lòng nhân từ ” Thiên Chúa giải thoát ta khỏi ách nô lệ chiến tranh.

    Việc chạy đua vũ trang không bảo đảm cho hoà bình mà “là một vết thương trầm trọng của nhân loại, và nó xúc phạm người nghèo một cách không thể tha thứ được” (MV 81).

    Chính những bất công, những chênh lệch qúa ư về kinh tế hay xã hội, sự ghen tương, ngờ vực và kiêu ngạo đang sôi sục giữa mọi người và mọi dân tộc, vẫn không ngừng đe doạ hoà bình của thế giới. Thực vậy, bao lâu con người còn là những kẻ tội lỗi, thì hiểm hoạ chiến tranh còn đe doạ, và sẽ vẫn còn đe doạ cho tới khi Chúa Kitô lại đến. Tuy nhiên, chừng nào nhờ sự hiệp nhất trong tình thương, con người thắng vượt được tội lỗi thì cũng thắng vượt được bạo lực, cho tới khi lời sau đây được hoàn tất: “Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cầy, rèn giáo mác nên liềm nên hái. Các dân tộc sẽ không còn vung kiếm đánh nhau, và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến” (MV 78).


    Điều răn thứ sáu
    SỐNG KHIẾT TỊNH

    I. GIÁ TRỊ CỦA GIỚI TÍNH

    “Thiên Chúa là tình yêu. Khi tạo dựng con người có nam có nữ giống hình ảnh người(…) Người khắc ghi trong họ ơn gọi, nghĩa là khả năng và trách nhiệm tương ứng, để sống yêu thương và hiệp thông” (PC 11). Như thế, loài người có hai giới nam và nữ. Mỗi giới có đặc tính riêng gọi là giới tính. Giới tính chi phối mọi khía cạnh của con người cả hồn lẫn xác, đặ biệt là khía cạnh cảm xúc, khả năng yêu thương và sinh sản, nói tổng quát hơn là khả năng nối kết những quan hệ để hiệp thông với người khác.

    Mỗi người nam và người nữ phải biết và chấp thuận giới tính của mình đó là những đặc tính vừa khác biệt vừa bổ túc cho nhau về thể xác, luân lý và tinh thần, cốt để mưu ích cho hôn nhân và phát huy đời sống gia đình. Sự hoà hợp trong đời sống lứa đôi và đời sống xã hội, tuỳ thuộc một phần vào cách sống của hai người nam nữ biết bổ túc cho nhau, biết nâng đỡ nhau và nương tựa lẫn nhau. Nam hay nữ đều có phẩm giá bình đẳng như nhau, nhưng mỗi giới phản ánh quyền năng và tình âu yếm của Thiên Chúa cách khác nhau. Đức Giêsu đã đến khôi phục mọi tạo vật trong sự tinh tuyền nguyên thuỷ của chúng. Người đã dạy: “Anh em đã nghe luật dạy rằng: Chớ ngoại tình. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi” (Mt 5, 27-28). “Sự gì Thiên Chúa kết hợp loài người không được phân ly” (Mt19,6). Và trong truyền thống Hội Thánh hiểu rằng, điều răn thứ VI bao gồm toàn bộ những gì thuộc giới tính con người.

    II. ƠN GỌI KHIẾT TỊNH

    Khiết tịnh có nghĩa là con người hoà nhập giới tính cách tốt đẹp nơi bản thân mình, nhờ có xác hồn thống nhất từ bên trong. Giới tính cho thấy con người phải lệ thuộc vào thể xác và sinh lý; nhưng khi giới tính được hoà nhập trong tương quan giữa người với người, trong việc người nam và người nữ hiến dâng trọn vẹn và mãi mãi cho nhau, thì giới tính lại mang giá trị cao quý. Như thế đức khiết tịnh bao gồm việc con người sống thanh khiết toàn vẹn và hiến dâng trọn vẹn.

    1. Sống thanh khiết toàn vẹn

    Người khiết tịnh là người duy trì được sự sống và tình yêu của mình toàn vẹn, liêm khiết, làm cho bản thân được thống nhất, chống lại những gì là giả hình gian dối. Muốn thế phải tập tự chủ, tập hướng dẫn tự do tập tự chủ phải là công trình dài hạn không chỉ một lần là đủ, mà ở tuổi đời nào cũng phải tập đi tập lại (x.Tt 2,1-6), và phải tập khẩn trương hơn trong tuổi nhân cách đang trưởng thành, như tuổi trẻ và tuổi thiếu niên. Đức khiết tịnh cũng theo những định luật tăng trưởng, nghĩa là phải trải qua lúc bất toàn và nhiều khi còn tội lỗi nữa. Đức khiết tịnh được coi là chuyện riêng tư của bản thân, nhưng nó cũng đòi hỏi một cố gắng trong phát triển văn hoá, vì, “sự thăng tiên của nhân vị tuỳ thuộc vào sự phát triển của xã hội” (MV 25,1). Xã hội c ó giúp con người được biết và được giáo dục, thì họ mới dễ dàng tôn trọng các giá trị luân lý. S au hết, đức khiết tịnh là một ơn của Chúa, là hoa trái của Thánh Thần (x. Gl 5,23).

    2. Hiến dâng trọn vẹn

    Việc tự chủ bản thân để duy trì đức khiết tịnh dẫn đến việc hiến dâng, làm cho ta trở thành nhân chứng của người khác về lòng trung tín và tình âu yếm của Thiên Chúa. Nhờ ảnh hưởng của đức ái, đức khiết tịnh được coi là trường dạy hiến dâng. Đức khiết tịnh nảy nở trong tình bạn hữu, nó giúp ta biết noi theo và bắt chước Chúa Kitô. Đấng đã chọn ta làm bạn hữu người (x. Ga 15,15) và tận hiến cho ta để ta được làm con cái Thiên Chúa. Đức khiết tịnh được bày tỏ nhất là trong tình bạn hữu với người thân cận, dù là nam hay nữ, tình bạn ấy được coi như là một ích lợi lớn lao cho mọi người, nó dẫn đến sự hiệp thông trong tâm hồn. “Đức khiết tịnh làm cho ta tổ chức lại bản thân, đem đến chỗ hiệp nhất mà ta đã đánh mất vì chính ta đã phân tán” (T. Autinh, Tự thuật 10,29).

    Mỗi Kitô hữu đều được mời gọi sống khiết tịnh trong bậc sống của mình. “người thì khiết tịnh trong bậc đồng trinh hay bậc độc thân được thánh hiến, là phương thế trổi vượt để dễ dàng hiến dâng cho Thiên Chúa con tim không chia sẻ; người khác thì khiết tịnh theo luật luân lý ấn định chung cho mọi người trong bậc sống vợ chồng hoặc độc thân” (CDF 11).

    Những người đã đính hôn cũng được mời gọi sống khiết tịnh bằng việc tiết dục. Việc tiết dục khiết họ tôn trọng nhau, tập giữ lòng chung thuỷ, và giúp nhau lớn lên trong khiết tịnh.

    III. NHỮNG TỘI NGHỊCH ĐỨC KHIẾT TỊNH

    Tội dâm ô là một ước muốn hỗn loạn chỉ tìm hướng khoái lạc nhục dục mà không nhằm mục đích sinh sản và hiệp nhất với nhau. Ước muốn như vậy là trái luân lý.

    Tội thủ dâm là cố tình kích thích cơ quan sinh dục để tìm khoái lạc nhục dục mà không nhằm mục đích sinh sản con cái (CDF Persona Humana 9). Trong mục vụ, để xét đoán cho đúng tội này, cần lưu ý đến tình trạng chưa trưởng thành về tình cảm, đến sức mạnh của thói quen đã mắc phải, đến tình trạng xao xuyến và các nhân tố tâm lý hay xã hội làm giảm tội, và thậm chí còn có thể xoá bỏ tội về mặt luân lý.

    Tội tà dâm là quan hệ xác thịt ngoài hôn nhân giữa một người nam và người nữ. Tội này nghịch nặng với nhân phẩm và tính dục của con người, vì tính dục hướng tới lợi ích của vợ chồng, cũng như sinh sản và giáo dục con cái. Tội này gây gương xấu nặng khi phạm với thanh thiếu niên.

    Tội khiêu dâm là việc trình bày cho người khác những hành vi tính dục đã làm thật hay chỉ giả vờ. Nó làm biết chất hành vi vợ chồng hiến dâng thân mật cho nhau. Nó xúc phạm đến nhân phẩm của những người lao mình vào nó như: diễn viên, con buôn, dân chúng, vì người này trở thành một trò chơi thô lỗ và một mối lợi bất chính cho người kia. Nó dìm cả đôi bên trong ảo tưởng về một thế giới giả tạo. Đó là một lỗi nặng. Chính quyền cần nghiêm cấm sản xuất và phổ biến các sản phẩm khiêu dâm.

    Tội mãi dâm là xúc phạm đến phẩm giá của người hành nghề mãi dâm, vì họ chỉ là trò vui nhục dục cho người khác. Người mua dâm phạm tội nặng đến chính mình vì lỗi đức khiết tịnh đã cam kết khi được rửa tội, và làm ô uế thân thể mình là đền thờ của Chúa Thánh Thần. Đây là một tai hoạ trong xã hội, thường liên hệ đến phụ nữ, nhưng cũng liên hệ đến cả đàn ông, thiếu niên và trẻ em. Với những người trẻ, người ta còn phạm tội làm gương xấu nữa. Tuy nhiên sự nghèo khổ và áp lực xã hội có thể giảm đi trách nhiệm.

    Tội hiếp dâm là dùng bạo lực cưỡng bức người khác phải quan hệ tình dục. Tội này phạm đến đức công bằng và đức ái, nghĩa là đến quyền được tôn trọng, quyền tự do và sự toàn vẹn thanh khiết cả thân xác lẫn tinh thần của con người. Nó có thể gây tổn thương nặng cho nạn nhân khi phải chịu ảnh hưởng suốt đời. Tội này đặc biệt nặng khi do cha mẹ hay các người giáo dục phạm đến những trẻ được trao phó cho mình.

    Tội đồng tình luyến ái là tội cũa những người nam hay nữ bị cám dỗ về tình dục, nhưng chỉ với người cùng giới với mình. Kinh Thánh đã lên ánh việc này là “việc suy đồi trầm trọng” (x. St 19,1-29; Rm 1,24-27) và truyền thống luôn coi đó là hành vi thác loạn, trái với luật tự nhiên, nghịch với việc trao ban sự sống, không phải là để bổ khuyết tình cảm và tính dục thực sự. Tuy nhiên đa số những người phạm tội này không tự chọn tình trạng đồng tính luyến ái, ho cần được đối sử kính trọng, thông cảm và tế nhị, tránh kỳ thị họ cách bất công. Họ có thể nhờ sự tự chủ để tập luyện cho mình được tự do nội tâm, nhờ bạn hữu nâng đỡ, nhờ cầu nguyện và lãnh các Bí tích để trở về đời sống Kitô hữu trọn hảo.

    IV. GIÁ TRỊ HÔN NHÂN

    Trong hôn nhân việc kết hợp thể xác của vợ chồng là dấu chỉ và đảm bảo cho sự hiệp thông tinh thần. “Những hành vi thể hiện sự kết hợp thân mật và thanh khiết của vợ chồng là những hành vi đức hạnh và xứng đáng, chúng bày tỏ và giúp vợ chồng hiến thân để làm cho nhau thêm phong phú trong niềm vui và biết ơn” (MV 49,2). Nhờ sự phối hợp mà vợ chồng thể hiện được mục đích kép của hôn nhân, đó là lợi ích của chính vợ chồng và việc sinh sản. Đây là hai ý nghĩa và hai giá trị của hôn nhân mà ta không thể tách rời. Tách rời là gây thiệt hại cho đời sống thiêng liêng của vợ chồng, và đe doạ lợi ích của hôn nhân và tương lai của gia đình. Hôn nhân đòi vợ chồng phải chung thuỷ và sinh sản con cái.

    1. Chung thuỷ giữa vợ chồng

    Vợ chồng làm thành “một cộng đồng thân mật để sống và yêu, theo những lề luật do Đấng Tạo Hoá đã thiết lập và trao ban. Cộng đồng này được thiết lập trên giao ước giữa hai vợ chồng, nghĩa là trên sự ưng thuận của mỗi người và không thể rút lại được” (MV 48,1). Giao ước này đòi họ phải duy trì một vợ một chồng và không được tháo gỡ (GL 1056). “Điều gì Thiên Chúa đã liên kết, con người không được phân ly” (Mc 10,9). Sự trung thuỷ giữa vợ chồng chứng tỏ lời họ hứa được duy trì bền vững.

    2. Sinh sản con cái

    Sinh con là một ân huệ và mục đích của hôn nhân. Đứa con là hoa trái và là thành tựu do tình yêu hiến dâng của vợ chồng, và vợ chồng được dự phần vào quyền sáng tạo và tình yêu phụ tử của Thiên Chúa (x. MV 50,2). Vợ chồng vừa truyền thông sự sống, vừa là người giáo dục, đó là sứ mệnh riêng của họ. Họ biết rằng chính mình là cộng tác viên của Thiên Chúa, Đấng Tạo Hoá và là thông ngôn của người (MV 50,2). Nhưng trách nhiệm sinh sản con cái đòi hỏi vợ chồng phải điều hoà việc sinh sản, nghĩa là nếu có lý do chính đáng, vợ chồng có thể cách quãng việc sinh con, nhưng không được chiều theo lòng ích kỷ, mà theo lòng quảng đại của bậc cha mẹ có trách nhiệm. Muốn điều hoà việc sinh sản, họ phải theo những phương pháp phù hợp với luân lý như: chế dục định kì, phương pháp điều hoà dựa trên việc tự quan sát bản thân, và phương pháp dựa vào thời kỳ không thụ thai. Các phương pháp này tôn trọng thân xác vợ chồng, khích lệ tình âu yếm nhau và giúp họ tập luyện tự do đích thực. Do đó, “mọi hoạt động nào diễn ra trước hoặc đang khi vợ chồng ăn ở với nhau, hoặc là sau đó trong diễn tiến và phát triển các hiệu qủa tự nhiên của nó, nếu được dùng như mục đích hay phương tiện để làm cho không thể sin sản được, đều là xấu tự bản chất” (HV 14).

    Đứa con không phải là “cục nợ”, nhưng là “hồng ân tuyệt vời nhất của hôn nhân”. Đứa con có những quyền thực sự của nó, đó là “quyền được là hoa trái của hành vi do tình yêu hôn nhân giữa người cha và người mẹ, và quền được tôn trọng như một nhân vị ngay từ lúc mới thụ thai” (CDF Donum Vitae 2,8). Kinh Thánh và truyền thống coi những gia đình đông con là dấu hiệu được Thiên Chúa chúc phúc (x.MV 50,2). Phúc Âm cho thấy việc son sẻ không con cai không phải là bất hạnh tuyệt đối (GLCG 2379). Những kỹ thuật tân tiến ngày nay như thụ tinh nhân tạo do tinh và noãn không phải của chồng hay vợ, đều là việc bất chính nghiêm trọng (CDF Don vit 2,1). Cả khi thụ tinh nhân tạo do tinh trùng của chồng cũng không thể chấp nhận về mặt luân lý, vì nó tách biệt hành vi tính dục với hành vi sinh sản.

    V. NHỮNG VI PHẠM PHẨM GIÁ HÔN NHÂN

    Ngoại tình có ý chỉ sự bất trung giữa vợ chồng. Khi ít là một trong hai người nam nữ đã có vợ chồng mà lại quan hệ tình dục với nhau, dù chỉ chỉ chóng qua thôi, thì họ cũng đã phạm tội ngoại tình. Chúa Giêsu đã lên án tội ngoại tình dù chỉ trong ước muốn (x. Mt 27 -28). Điều răn thứ VI và Tân ước tuyệt đối cấm ngại tình (x. Mt 5,32;19,6), và coi đó là bất công, là lỗi lời cam kết, và giao ước trong hôn nhân, xúc phạm đến quyền lợi của người bạn đời, và gây nguy hại cho cc trẻ em đang cần sự hiệp nhất bền vững của cha mẹ.

    Ly dị . Chúa Giêsu đã nhấn mạnh đến ý định của Đấng Tạo Hoá muốn hôn nhân bất khả phân ly (x. Môi trường 5,31-32). Người huỷ bỏ những dung thứ đã lọt vào trong luật cũ (x. Mt 19,7-9). Giữa hai người Công giáo, khi đã kết hôn và ăn ở với nhau rồi thì không quyền năng nào của loài người, và không lý do nào có thể tháo gỡ, trừ sự chết. Ly dị là vi phạm nặng đến luật tư nhiên, và xúc phạm đến giao ước mà Bí tích Hôn phối là dấu hiệu. Nếu người đã ly dị còn kết hôn nữa, thì họ ở trong tình trạng ngoại tình công khai và thường xuyên. Ly dị còn vô luân nữa, vì nó gây xáo trộn trong gia đình: người bạn đời bị bỏ rơi, con cái bị tổn thương vì cha mẹ chialy, còn trong xã hội, nó như một vết thương dễ lây nhiễm.

    Ly thân giữa vợ chồng, nhưng vẫn giữ dây hôn phối đó là điều hợp pháp trong một số trường hợp giao1 luật đã dự trù như, người này gây nguy hiển nặng nề hoặc về phần hồn hay phần xác cho người kia và cho con cái; đời sống chung qúa cơ cực.

    Đa thê là tình trạng không hợp luân lý. Thật là một thảm kịch khi người đa thê muốn trở thành Kitô hữu, họ buộc phải bỏ một hay nhiều vợ mà đã cùng nhau chia sẻ đời sống vợ chồng lâu năm. Dù trở thành Kitô hữu, họ bị buộc phải giữ nghĩa vụ đã giao kết với các người vợ khác, và các con cái của mình.

    Loạn luân là những quan hệ xác thịt giữa những người cùng huyết tộc hoặc là sui gia ở cấp bậc mà luật không cho phép kết hôn với nhau. Tội này phá huỷ quan hệ gia đình và biểu lộ một sự thoái hoá hướng về thú tính. Người lớn phạm tội loạn luân với thiếu niên hay trẻ em được gửi gắn cho mình thì tội nặng gấp đôi, vì gây gương xấu và làm cho người trẻ mang dấu vết suốt đời.

    Tự do kết hôn là hai người nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không tuân theo một hình thức pháp lý nào, như: có vợ bé, không muốn có hôn nhân, không có khả năng cam kết sống chung với nhau lâu dài. Các tình trạng này đều xúc phạm phẩm giá của hôn nhân, trái luân lý, và là một tội nặng.

    Hôn nhân thử nghiệm là hai bên đã có ý kết hôn, nên đã có những quan hệ tình dục để thử, trước khi dứt khoát kết hôn với nhau. Việc thử như vậy “không bảo vệ cho họ chống lại những ngông cuồng và thói thất thường” (CDF Per Hum 7). Tình yêu con người không cho phép “thử”, nó đòi hiến thân trọn vẹn và dứt khoát (x. FC 80).



    Điều răn thứ bẩy
    SỐNG CÔNG BẰNG

    Điều răn thứ 7 cấm không được ăn trộm, ăn cắp của người khác. Cấm lường gạt, bắt cóc hay dụ dỗ người khác, để chiếm hữu cho mình hay bắt làm nô lệ. Công bằng được thể hiện trong cuộc sống phải là một tình yêu đích thực, tình yêu này được xây dựng trên nền tảng công bằng.

    I. QUYỀN CHUNG HƯỞNG CỦA CẢI TRẦN THẾ VÀ QUYỀN TƯ HỮU

    Nhân loại ngày nay quá đề cao quyền tư hữu, làm mất đi ý thức về người khác, tạo ra tình trạng bất bình đẳng trong xã hội ngày càng lớn. Tuy nhiên, cũng cần có quyền tư hữu để bảo vệ tự đo và bảo đảm những nhu cầu căn bản của con người.
    Mọi người đều có quyền chung hưởng của cải trần thế, vì dựa vào Kinh Thánh cho thấy rằng “Thiên Chúa đã đặt định trái đất và mọi vật trên trái đất thuộc quyền sử dụng của mọi người, và của mọi dân tộc. Chính vì thế, của cải được tạo dựng phải được phân phối cho mọi người cách hợp lý, theo luật công bằng là luật đi liền với bác ái” (MV 69).

    II. TÔN TRỌNG SỞ HỮU CỦA THA NHÂN

    1. Tôn trọng tài sản của tha nhân

    Điều răn thứ 7 cấm không được trộm cắp, nghĩa là không được tước đoạt của cải người khác, cũng như mọi hình thức lấy của chung làm của riêng, đầu cơ tích trữ, buôn gian bán lận, trốn tránh những thuế vụ chính yếu…

    Không được biến người khác thành món hàng để trao đổi, mua bán như dịch vụ mãi dâm, buôn bán bào thai và trẻ em, dùng người để buôn hàng lậu. Phải tôn trọng và không được vi phạm những giao kèo mua bán, thuê mướn lao động.

    Ngoài ra, đức công bằng đòi hỏi phải đền bù những thiệt hại đã gây ra cho người khác, bằng cách trả lại đồ vật đã lấy, hoặc trả lại số tiền tương đương.

    2. Tôn trọng sự toàn vẹn của vạn vật

    Thiên Chúa ban tất cả tài nguyên thiên nhiên như khoáng sản, thực vật, động vật cho con người. Vì thế, con người được phép khai thác để phục vụ cho cuộc sống, nhưng phải tôn trọng thiên nhiên là tài sản chung, cho con người hôm nay và cho cả thế hệ mai sau, nên phải biết bảo tồn và không được giết hại hay hành hạ thú vật cách vô ích, trái với phẩm giá con người.

    III. CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

    1. Hoạt động kinh tế

    Phát triển kinh tế phải nhằm mục đích phục vụ nhu cầu của con người. Mục đích của sản xuất không chỉ làm gia tăng sản lượng, lợi tức hay quyền lợi, mà chính là để phục vụ con người.

    Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm an ninh, tư do của cá nhân, quyền tư hữu và sự ổn định tiền tệ… các chủ xí nghiệp và các nhà đầu tư phải đảm bảo việc đầu tư và cung cấp việc làm cho công nhân, cũng như quan tâm đến lợi của con người, chứ không chỉ đến lợi nhuận.

    2. Lao động

    Lao động không chỉ để nuôi sống bản thân và gia đình, mà còn là việc tham gia vào công trình tạo dựng của Thiên Chúa, cũng như công cuộc cứu độ của Chúa Kitô qua những lao công vất vả của mình. (xc. Mv 67)

    Mọi người đều có quyền có việc làm và hưởng đồng lương xứng đáng, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, phái tính hay giai cấp, miễn làm sao “đủ khả năng xây dựng cho mình và gia đình một đời sống xứng hợp cả về phương diện vật chất, xã hội, văn hoá cũng như tinh thần” (Mv 67).

    IV. LIÊN ĐỚI GIỮA CÁC DÂN TỘC

    Ngày nay có sự cách biệt rất lớn giữa các nước giàu và nghèo. Một số quốc gia ngày càng giàu hơn, thì cũng đồng nghĩa với việc một số quốc gia nghèo lại gia tăng nợ nần. Đó là việc các quốc gia giàu có đã tước đoạt tài nguyên thiên nhiên của các nước nghèo dưới nhiều hình thức khác nhau.

    Giáo Hội kêu gọi xây dựng công bằng thế giới và tình liên đới giữa các dân tộc. Qua việc giúp đỡ trực tiếp hay cải tổ cơ cấu nền kinh tế thế giới, hướng đến việc phát triển toàn diện gia đình nhân loại.

    V. YÊU THƯƠNG NGƯỜI NGHÈO

    Trong Cựu Ước, có Năm Toàn Xá là biện pháp cụ thể để nâng đỡ người nghèo qua việc tha thứ nợ nần, trả lại đất đai. Đến thời Tân Ước, Đức Giêsu công bố nước trời cho những người nghèo, Ngài sống giữa người nghèo, chăm sóc cho họ. Giáo Hội luôn dành cho người nghèo tình thương yêu đặc biệt.

    Kitô hữu thể hiện lòng thương yêu qua cuộc sống tiết độ của mình, không tham lam của cải, tiêu xài lãng phí. Góp phần làm vơi đi nỗi khổ của nhân loại về vật chất cũng như tinh thần: an ủi, khích lệ, khuyên bảo, dạy dỗ; cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống; làm các việc từ thiện, bố thí trong tình bác ái huynh đệ.


    Điều răn thứ tám
    TÔN TRỌNG SỰ THẬT

    “Ngươi không được làm chứng dối chống lại đồng loại” (Xh 20,16).
    “Thầy bảo cho anh em biết: đừng thề chi cả… Nhưng hễ có thì phải nói có, không thì phải nói không. Thêm thắt điều gì là do ác quỷ” (Mt 5,33).
    “Ai yêu thương là chu toàn lề luật” (Rm 13,8).

    I. SỐNG TRONG SỰ THẬT VÀ LÀM CHỨNG CHO SỰ THẬT

    Thiên Chúa là nguồn mọi sự thật, Lời Ngài là chân lý, nên con người được mời gọi sống trong sự thật. Con người bước theo Đức Giêsu là sống trong Thánh Thần chân lý, Đấng dẫn đưa chúng ta vào tất cả sự thật. Con người phải sống thành thật, chân thành trong lời nói cũng như việc làm. Không thể sống với nhau nếu như không tin tưởng nhau, không có sự thành thật, cuộc sống sẽ trở nên nặng nề, người ta phải thường xuyên cảnh giác và lo sợ lẫn nhau.

    Kitô hữu được mời gọi không chỉ sống trong sự thật, mà còn làm chứng cho sự thật theo gương Chúa Giêsu. Nên làm chứng cho sự thật cũng là làm chứng cho Chúa Kitô, cho niềm tin vào Ngài.

    II. TỘI PHẠM CHỐNG LẠI SỰ THẬT

    1. Thề gian, làm chứng dối

    Những việc thề thốt, làm chứng mà gây thiệt hại nghiêm trọng cho người khác. Anh hưởng đến phán quyết của toà án, dẫn đến kết án cho người vô tội, hoặc gia tăng hình phạt cho phạm nhân.

    2. Không tôn trọng thanh danh người khác

    Phán đoán liều lĩnh: là kết tội người khác khi không có đủ bằng chứng. Cho nên cần phải cẩn thận và giải thích tốt hết sức có thể về tư tưởng và hành vi của người khác.

    Nói hành nói xấu: là phơi bày lỗi phạm của người khác cho người chưa biết.
    Vu khống: hay cáo gian làm thiệt hại thanh danh người khác.
    Nịnh hót: a dua tâng bốc hay lấy lòng để thúc đẩy kẻ khác làm điều xấu.
    Khoe khoang: hay khoác lác là một lỗi nghịch với sự thật.


    3. Nói dối

    Nói dối là nói ngược với sự thật, khiền người khác bị lầm lạc. Mức độ tuỳ theo bản chất của lời nói dối, hoàn cảnh và ý định của người nói dối, cũng như thiệt hại mà nó gây nên.

    Theo đòi hỏi của lương tâm, những lỗi phạm đi ngược công bằng và đức ái phải được đền bù. Có thể công khai hoặc kín đáo.

    III. TÔN TRỌNG VÀ PHỤC VỤ SỰ THẬT

    1. Tôn trọng sự thật

    Chúng ta buộc phải nói sự thật, nhưng trong một vài trường hợp chúng ta phải cẩn trọng xem xét có nên nói sự thật hay không hoặc chỉ nói tránh đi, vì nó có thể dẫn đến những hậu quả không tốt. Không ai bị bắt buộc phải nói cho người khác điều mà họ không có quyền biết.

    Những bí mật về nghề nghiệp, tâm sự đòi buộc phải giự kín. Chỉ được phép nói ra vì những lý do nghiêm trọng và cân xứng hoặc vì tai nạn có thể xảy ra nếu không nói.

    2. Những phương tiện truyền thông

    Trong thời đại ngày nay, những phương tiện truyền thông phát triển rất nhanh, đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống con người. Cần phải đặt nền tảng của truyền thông trên sự thật, tự do, công bằng và tình liên đới nhằm phục vụ công ích chung của con người. Vì có nhiều bóp méo sự thật làm cho nhiều người mất đi khả năng đón nhận chân lý. Do đó, người tín hữu cũng phải tạo cho mình một kỷ luật và khả năng phán đoán, để đánh giá đúng mực và tiếp thu những gì tốt đẹp.

    IV. Trong cuộc sống hôm nay

    Do ảnh hưởng của xã hội, hoặc do nền giáo dục chuộng hình thức, làm cho sự gian dối trở thành quen thuộc trong cuộc sống hằng ngày của con người. Vì thế, người Kitô hữu phải cố gắng và can đảm sống ngay thẳng, thành thật, chân thành với chính mình và với mọi người.



    Điều răn thứ chín
    THANH KHIẾT TRONG TÂM HỒN

    Ngay từ thời Cựu Ước, Thiên Chúa không ngừng phán dạy dân Do Thái phải thanh sạch trong cánh ăn nết ở, đặc biệt giữ đời sống thanh khiết trong tâm hồn mình:

    “Ngươi không được ham muốn nhà người ta, ngươi không được ham muốn vợ người ta, tôi tớ nam nữ, con bò con lừa hay bất cứ vật gì của người ta” (Xh 20, 7).

    “Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi” (Mt 5,28).

    Trong quan hệ nam nữ, tình yêu đòi hỏi sống thanh khiết, nghĩa là nhìn người khác như một con người mình tôn trọng, chứ không chỉ là dụng cụ, phương thế cho ta thỏa mãn những ham muốn thấp hèn. Điều răn thứ chín nhấn mạnh: Sự thanh khiết ấy phải bắt nguồn từ chiều sâu tâm hồn. Muốn được như thế, phải chấn nhận chiến đấu với chính bản thân, mỗi ngày và suốt đời.

    I. THANH TẨY CON TIM

    Trong bài giảng trên núi, Đức Giêsu công bố “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” (Mt 5, 8). Tâm hồn là nơi quyết định tính chất luân lý của hành vi, vì “Tự lòng người phát xuất những ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cắp, làm chứng gan và vu khống” (Mt 15,19). Tâm hồn ấy phải thanh khiết, nghĩa là phải biết quy hướng về Chúa, là Đấng tuyệt đối thanh khiết.

    Những người có tâm hồn thanh khiết được hứa là “sẽ nhìn thấy Thiên Chúa”. Như vậy, sự thanh khiết trong tâm hồn là điều kiện để được hưởng nhan thánh Chúa. Ngay từ bây giờ, tâm hồn ấy đã có thể giúp ta nhìn mọi sự bằng cặp mắt của Chúa, nhìn thân xác mình và thân xác người khác như Đền thờ của Thánh Thần, biểu lộ vẻ đẹp của Thiên Chúa, chứ không phải cái nhìn dung tục dẫn đến tội lỗi.

    II. CUỘC CHIẾN ĐẤU ĐỂ SỐNG THANH KHIẾT

    1. Trong đời sống cá nhân

    Ai cũng có kinh nghiệm về những dục vọng xấu nơi mình. Những dục vọng ấy là hậu quả của tội nguyên tổ. Bí tích Thánh Tẩy tha thứ mọi tội lỗi, nhưng những dục vọng xấu vẫn còn, ta phải cố chiến thắng chúng nhờ:

    - Nhờ nhân đức và ơn khiết tịnh
    - Nhờ thanh tẩy ý hướng: xác định rõ cứu cánh đích thực của đời người là ở nơi Chúa, từ đó thi hành thánh ý Chúa trong mọi sự.
    - Nhờ thanh tẩy cách nhìn bên ngoài cũng như bên trong: làm chủ tư tưởng, khước từ những tư tưởng xấu khiến ta xa Chúa.
    - Nhờ cầu nguyện, vì ‘không ai có thể sống khiết tịnh nếu không được Chúa ban ơn’ (Au tinh).
    - Nhờ sống đoan trang, thể hiện trong cách ăn mặc, nói năng, cư xử với người khác.


    2. Trong đời sống xã hội

    Môi trường xã hội hôm nay đẫy rẫy những quyến rũ dâm ô: phim ảnh, báo chí, sách vở, hộp đêm, … thêm vào đó là chủ trương phóng túng về luân lý ngày càng phổ biến. Tất cả đều lôi kéo con người vào đường tội lỗi hơn là sống thánh thiện.

    Muốn giữ được tâm hồn thanh khiết, Kitô hữu phải có can đảm xa lánh những dịp tội, những dịp vui chơi giải trí không lành mạnh. Hơn thế nữa, còn phải góp phần với mọi người thiện chí, để xây dựng một bầu khí xã hội lành mạnh hơn, như Hội Thánh mong muốn: “Phúc Âm của Chúa Kitô không ngừng đổi mới cuộc sống và văn hóa của con người đã sa ngã, chống đối và khử trừ các sai lầm và tai họa phát sinh từ sức quyến rũ thường xuyên của tội lỗi luôn luôn đe dọa” (MV 58).


    Điều răn thứ mười
    CHỚ THAM CỦA NGƯỜI

    Nếu điều răn thứ 7 là cấm trộm cắp, cướp đoạt và gian lận, thì cũng cần điều răn thứ 10 để bổ túc thêm, nhắm đến lòng tham như nguồn gốc của những tội lỗi trên. Như vậy, điều răn thứ 9 và thứ 10 nhắm đến ý hướng trong lòng, và tóm kết tất cả các giới răn.

    I. HAM MUỐN BẤT CHÍNH

    Ai đói cũng thèm ăn, ai lạnh cũng mong được sưởi ấm. Ở tự nó, những ham muốn này là tốt, vì giúp bảo vệ sự sống. Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy con người không giữ được mức độ hợp lý trong những ham muốn này.

    Vì không giữ được mức độ hợp lý nên sinh ra tham lam và ghen tị.

    + Tham lam: là ham mê của cải, và thế lực do của cải đem lại; từ đó có thể làm điều bất công hại đến tài sản người khác. Kinh Thánh còn ghi lại câu chuyện về một người giàu, tuy có vô số chiên cừu, nhưng lại đi bắt con chiên duy nhất của người nghèo để làm việc đãi khách (x. 2Sm 12, 1-4). Cuộc sống hôm nay vẫn đầy rẫy những con người tham lam như thế: những nhà buôn mong hàng hóa khan hiếm và đắt đỏ, những kẻ mong người khác gặp hoạn nạn để thu lợi,…
    + Ghen tị: là buồn phiền khi thấy người khác có của cải và ước ao chiếm đoạt. Thánh Âu-tinh coi ghen tị là tội quỷ quái nhất, vì ghen tị sinh ra thù ghét, nói xấu, vu khống, vui khi thấy kẻ khác gặp hoạn nạn, buồn khi thấy kẻ khác được may lành”. Thánh Gioan Kim Khẩu nói quyết liệt hơn: “Chúng ta đấm đá nhau chỉ vì ghen tị… Nếu mọi người đều xâu xé nhau như vậy thì thân thể Chúa Kitô sẽ ra sao? Chúng ta đang làm tan nát Thân Thể Chúa Kitô”.


    II. ƯỚC MUỐN NHỮNG ĐIỀU HỢP Ý CHÚA THÁNH THẦN

    1. Điều chỉnh những ước muốn theo Chúa Thánh Thần

    Tự nó, ước muốn không phải là điều xấu. Vấn đề là phải điều chỉnh những ước muốn cho đúng đắn. Phải cảnh giác trước sự quyến rũ của những thực tại “ăn thì ngon, trông đẹp mắt và đáng quý” (St 3, 6), nhưng lại ẩn chứa bên trong nọc độc của tội lỗi và sự chết. Điều mà Kitô hữu phải ước muốn là sự toàn thiện, và đặt mình trong sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Vì thế, thánh Phaolô nói tín hữu là người “đã đóng đinh xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê” (Gl 5, 24), và ước muốn những điều hợp ý Chúa Thánh Thần (x. Rm 8, 27), để vượt qua những ý muốn bất chính.

    2. Sống tinh thần nghèo khó

    Mối phúc đầu tiên được Đức Giêsu công bố là “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó” (Mt 5, 3), và Ngài thường xuyên cảnh giác con người trước mối nguy hiểm của tiền bạc (x. Lc 6, 24): “Kho tàng của anh ở đâu thì lòng anh ở đó” (Mt 6, 21).

    Sống tinh thần nghèo khó là chọn Chúa làm gia nghiệp của mình, đặt Chúa trên hết mọi sự và vì thế sẵn sàng từ bỏ mọi sự vì Đức Giêsu và vì Tin Mừng (x. Mc 8, 35). Nhờ đó, trong cuộc sống hàng ngày tín hữu “điều khiển tâm tình cho đúng đắn để việc sử dụng của cải trần gian và lòng quyến luyến sự giàu sang nghịch với tinh thần nghèo khó của Tin Mừng, không cản trở họ theo đuổi Đức ái trọn hảo” (GH 42).

    Biết ao ước hạnh phúc đích thực, ta được giải thoát mọi ràng buộc bất chính với của cải trần thế. Và cuối cùng, được chiêm ngắm nhan thánh Chúa và hưởng hạnh phúc bên Người.

    ___hết___

    jHr, Chuyển Unicode, từ sách của kho sách TGM-TGP Hà Nội

    ..........
    * Xem thêm:
    + Bản hướng dẫn xét mình xưng tội: http://svhaiha.org/@forum/showthread...3207#post13207
    + Bản HD Xưng Tội và Phương pháp xét Mình: http://gxnamlo.org/jl/memaria/cngcs/...e-xetminh.html
    .....
    Thân mến!
    thay đổi nội dung bởi: jhr, Feb 12th, 2012 lúc 09:34

  9. Đã có tới 5 Thành viên mến yêu và nói lời cảm ơn tới quý jhr Cho Bài Viết ý nghĩa hấp dẫn từ chính tấm lòng của quý vị/bạn chia sẻ với H2 đó:

    AnTonTran (Mar 20th, 2014), dienHA (May 9th, 2012), lucahoang89 (Dec 15th, 2012), Mun (May 11th, 2012), sunshine (May 9th, 2012)

+ Trả Lời Ðề Tài

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Tính năng/Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình
  •